Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Nhận diện và phân loại hoạt động của các “hiện tượng tôn giáo mới” ở Việt Nam vấn đề cấp thiết trong công tác quản lý

TS. Lê Thị Liên - 17:05, 10/08/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Hiện tượng tôn giáo mới (HTTGM) xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại, ở hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam và trở thành một tất yếu của sự phát triển xã hội. Sự hiện hữu của các tôn giáo hiện nay đều có khởi đầu từ những hiện tượng tôn giáo mới. Chúng phản ánh những vấn đề tâm lý và nhận thức của con người trước những vấn đề cuộc sống đang đặt ra. Tại Việt Nam, thời gian qua nhiều hiện tượng tôn giáo mới/hội, nhóm tôn giáo (gọi chung là HTTGM) xuất hiện (có những thời điểm lên đến hơn 100 loại và hiện nay khoảng 80 loại), với nhiều tên gọi, nguồn gốc khác nhau tồn tại bên cạnh các tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống, hoạt động đa dạng và cũng không kém phần phức tạp, đã ảnh hưởng đến đời sống người dân và an ninh xã hội ở một số địa phương. Do vậy, việc nhận diện, phân loại hoạt động của các hiện tượng này là một trong những bước đi quan trọng để đề xuất giải pháp quản lý phù hợp. Nhằm đảm bảo đúng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân vừa đảm bảo môi trường tín ngưỡng, tôn giáo ổn định.

Từ khóa: Hiện tượng tôn giáo mới; Nhận diện, phân loại; Quản lý, hoạt động.

1. Nhận diện hoạt động của các “hiện tượng tôn giáo mới” ở Việt Nam trong công tác quản lý

Bàn đến HTTGM, bài viết không đặt ra việc nghiên cứu lý luận, truy tìm đến khái niệm, nguồn gốc xuất hiện và quá trình phát triển trên phạm vi rộng, mà chỉ tiếp cận các HTTGM trong tương quan với công tác quản lý hoạt động tôn giáo ở Việt Nam. Do vậy, có những tôn giáo đã xuất hiện, phát triển nhiều thập kỷ, thế kỷ và trở thành tôn giáo có tầm ảnh hưởng trên thế giới nhưng mới xuất hiện ở Việt Nam và chưa được nhìn nhận về mặt pháp lý thì vẫn gọi chung là HTTGM. Gọi là “hiện tượng tôn giáo” vì có đủ các yếu tố cấu thành của một tôn giáo (đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức), tuy nhiên đang ở dạng sơ khởi, sơ sài, chưa bền vững, chưa được xã hội nhìn nhận và pháp luật công nhận. “Mới” là xuất hiện sau các tôn giáo, các tổ chức tôn giáo đã có tính pháp lý ở Việt Nam.

Về nguồn gốc: Các HTTGM xuất hiện ở Việt Nam dưới hai dạng: Từ nước ngoài du nhập vào qua con đường Việt kiều, người Việt Nam đi học tập và lao động ở nước ngoài, cũng như người Việt kết hôn với người nước ngoài rồi trở về nước truyền bá và tổ chức các hoạt động; loại hình thành từ trong nước. Loại này ảnh hưởng khá nhiều từ các tôn giáo truyền thống (Phật giáo, Công giáo, Tin Lành) và tín ngưỡng dân gian.

Tuyên truyền vận động người dân, đặc biệt là đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi cảnh giác trước các âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo
Tuyên truyền vận động người dân, đặc biệt là đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi cảnh giác trước các âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo

Về giáo lý, giáo luật, lễ nghi: Chủ yếu là vay mượn, lắp ghép, chỉnh sửa từ giáo lý, luật lệ, lễ nghi của các tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống theo hướng đơn giản, lược bớt để không trùng và không bị dư luận từ phía các tôn giáo. Mục đích vừa tạo ra cái quen, vừa tạo ra sự khác biệt so với các tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống.

Về tên gọi và người sáng lập: Đa số các HTTGM đều cố gắng tạo cho mình một tên gọi riêng để tránh trùng với tên gọi của các tôn giáo, tín ngưỡng. Một số nhóm sử dụng tên gọi gắn với đối tượng thờ (trong đó nhiều nhất liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh), một số lấy tên người sáng lập. Có loại sử dụng nhiều tên gọi khác nhau ở các địa bàn khác nhau để thuận lợi cho việc phát triển đạo và tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng.

Người sáng lập hay còn gọi là giáo chủ, đa dạng về độ tuổi, giới tính, thành phần xuất thân, nghề nghiệp, nhưng theo ghi nhận và thống kê của các nghiên cứu thì phần nhiều là phụ nữ, ở độ tuổi trung niên. Đây cũng chính là “bằng chứng hấp dẫn, ly kỳ” thu hút người tham gia. Hầu hết người đứng đầu các HTTGM có khả năng thuyết giảng trước đông người, xuất khẩu thành thơ, nói năng lưu loát hấp dẫn người nghe. Đặc biệt, họ đều tự cho có khả năng “tâm linh” thông phần với các đấng ban, sai họ đến lập đạo.

Về tổ chức: Các HTTGM đều hình thành tổ chức, nhưng đơn giản thường từ 01-03 cấp. Có sự phân rõ ràng thường là: 01 hội trưởng hoặc trưởng nhóm hoặc trưởng đoàn, 2 hội phó hoặc phó đoàn, các ủy viên (số lượng tùy vào ý muốn của người sáng lập và công việc phải thực hiện), mỗi người phụ trách lĩnh vực/ khu vực riêng… Với các hội nhóm mang nặng yếu tố cực đoan thì các chức danh và dạng tổ chức có yếu tố giống tổ chức hành chính, hoặc hội xã hội nhiều hơn là cơ cấu của một tổ chức tôn giáo. Điển hình như bà Xuyến lập ra “Đạo trời nước Việt Nam” lấy ngày 01/01/2001 là ngày “khai đạo” và lập đền tại gia gọi là đền Hòa Bình (Hải Dương). Bà thành lập Hội liên hiệp lâm thời, do bà làm Hội trưởng, 5 hội phó và 18 ủy viên, 123 tổ (mỗi tổ có 1 tổ trưởng và 2 tổ phó) có hội viên hoạt động ở 45 tỉnh/thành phố, với khoảng 27 nghìn hội viên. Trong đó Hải Dương nhiều nhất với hơn 4.370 người, Bắc Giang khoảng 4.460 người. Đạo bà Nguyễn Thị Điền lập ra Hội đồng tu gia Điện Hoàng Thiên Long bao gồm 19 người để điều hành lễ nghi, tuyên truyền phát triển đạo.

Về hoạt động: Hầu hết các HTTGM đều coi trọng việc truyền bá tín điều, giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quy tắc hoạt động của đạo, đây cũng là nhiệm vụ cốt yếu của bất kỳ tôn giáo nào. Tổ chức cho người tín theo các khóa tu, thiền, cộng tu tập thể, nghe thuyết giảng giáo lý, cầu nguyện, thực hành giáo lý. Việc sinh hoạt tôn giáo tập trung thường diễn ra định kỳ theo các ngày trong tuần, trong tháng, các ngày lễ, ngày sinh nhật của người sáng lập (Giáo chủ). Một số loại tổ chức ngày kỷ niệm của đất nước. Địa điểm sinh hoạt thường là nhà riêng của giáo chủ (điện, đền), nhà riêng của tín đồ, cơ sở kinh doanh, địa điểm thuê, mượn (khách sạn, cơ sở lưu trú) hoặc địa điểm công cộng.

Về đối tượng tuyên truyền: Đa dạng, tiếp cận mọi đối tượng có thể, trong đó tập trung vào nhóm người gặp vấn đề khó khăn, trình độ dân trí thấp, ít hiểu biết xã hội; một số mất niềm tin vào cuộc sống, phai nhạt niềm tin vào những tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống; người có quan hệ gia đình, thân thiết, gắn bó ràng buộc về lợi ích kinh tế, việc làm đối với các những người sáng lập.

2. Phân loại hoạt động của các hiện tượng tôn giáo mới

2.1. Cơ sở phân loại hoạt động của các hiện tượng tôn giáo mới trong mối tương quan với công tác quản lý

Trên cơ sở truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, đạo đức văn hóa tôn giáo đã được xã hội thừa nhận. Các quy định về hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo và các hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo sửa đổi năm 2026, trong đó quy định những hành vi cấm như: (i) Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; (ii) Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; (iii) Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; (iv) Vi phạm các hoạt động sau trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo: Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội và môi trường; Trái đạo đức xã hội, xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự; nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo; chia rẽ giữa người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; (v) Lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản (iv) trên; (vi) Sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Như vậy, giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống, quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và các luật khác có liên quan thì hoạt động của các hiện tượng tôn giáo mới ở dạng nào, có vi phạm một trong những điều cấm hay không sẽ là cơ sở quan trọng để phân loại và thực hiện cách thức quản lý.

2.2. Phân loại hoạt động của các hiện tượng tôn giáo mới theo phương diện quản lý

Sự hình thành và phát triển các HTTGM đều theo quy trình nhận diện được trình bày ở trên, tuy nhiên việc phân loại thì có nhiều cách, tuỳ theo cách tiếp cận và cách phân loại phổ biến hiện nay là: (i) Theo địa tôn giáo (có loại hình thành từ nước ngoài truyền vào Việt Nam và loại hình thành từ trong nước); (ii) Phân loại dựa vào cách tiếp cận sử học (thời gian xuất hiện và phát triển); (iii) Phân loại dựa theo mối quan hệ với các tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống (loại gần với Phật giáo, Tin Lành, Công giáo; Loại gần với tín ngưỡng dân gian; loại pha tạp giữa tôn giáo và tín ngưỡng truyền thống; (iv) Phân loại dựa vào đặc điểm, sự tác động của các HTTGM theo hướng thuần túy tích cực; cực đoan trong hành vi hành đạo; đan xen cả tích cực và tiêu cực; (v) Phân loại dựa theo tính chất hoạt động: thuần túy tôn giáo; mê tín, trục lợi; cực đoan, chống phá, gây nguy hại cho xã hội và an ninh quốc gia.

Trong các cách phân loại trên thì phân loại theo tính chất hoạt động là bao quát và quan trọng nhất, bởi khi tiếp cận với cách phân loại này cũng sẽ nhận diện được các cách phân loại khác và đánh giá tác động của các HTTGM theo nhiều chiều cạnh khác nhau. Cách phân loại này là cơ sở quan trọng để các chủ thể quản lý đề ra chủ trương và công tác đối với từng loại.

2.2.1. Loại hoạt động thuần túy tôn giáo

Các HTTGM hình thành đều dựa trên các tín điều do người sáng lập đề ra với nhiều hình thức thơ, văn và được bổ sung, hoàn thiện trong quá trình phát triển. Trong đó hàm chứa những lời ca ngợi Đảng, ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh, các Anh hùng dân tộc; ca ngợi đối tượng tôn thờ, ca ngợi tôn giáo được sáng lập, đề ra những quy định cho việc tu tập, hành lễ. Quá trình truyền đạo họ tuyên truyền những giáo lý đó và hướng dẫn người tin cách thực hành, thờ cúng và những điều răn, giới cấm. Nội dung kinh, sách, các bài thơ, các buổi thuyết giảng người đứng đầu cũng đề cập đến vấn đề chống tiêu cực, tệ nạn xã hội như: phê phán nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mất dân chủ trong một bộ phận cán bộ nhà nước, phê bình thói hư tật xấu của các chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo hiện nay. Kêu gọi bài trừ những hoạt động mê tín trong đời sống tôn giáo. Kêu gọi tín đồ hoạt động hướng thiện, tránh xa các tệ nạn xã hội, tu nhân tích đức, kêu gọi, ủng hộ và tham gia các hoạt động an sinh xã hội do địa phương phát động. Kinh, sách đa số là chép tay, sau đó đánh máy, photocopy để phát cho người dân; thu băng hình, băng ghi âm phát trên các nền tảng xã hội như một cách thức truyền giáo.

2.2.2. Loại hoạt động tôn giáo nhưng mang yếu tố mê tín, trục lợi

Cũng như loại hoạt động thuần túy, loại này cũng đảm bảo các yếu tố cấu thành tôn giáo. Tuy nhiên, ngay từ khi hình thành giáo lý, luật lệ đã mang các yếu tố “huyền bí”, mê tín và lợi dụng để trục lợi về danh tiếng người/nhóm người sáng lập và vật chất. Đặc biệt lợi dụng hình ảnh lãnh tụ, các vị Anh hùng dân tộc để thần thánh hóa thành Thánh, thành Phật tái thế. Người sáng lập luôn tự đề cao, đánh bóng bản thân bằng việc tự xưng là thánh, thần, Phật, tuyên truyền được chân linh các vị về báo mộng và yêu cầu lập đạo để giúp nước (phê bình xã hội thực tại). Đặc biệt tuyên truyền chữa bệnh không dùng thuốc mà dùng phương pháp chữa bệnh phản khoa học, lừa gạt thu lợi bất chính (chữa bệnh bằng tâm linh, bằng năng lượng gốc, bằng tu tập…). Đề cao chữa bệnh bằng việc dùng quyền năng siêu nhiên của đấng thiêng họ thờ cúng: cho người bệnh uống nước đã được cầu cúng; có loại tác động lực trực tiếp lên cơ thể người bệnh; có nhóm dùng “năng lực ngoại cảm”, “sức mạnh tâm linh”, “năng lượng trường sinh học” vv… Niềm tin của loại này mang nặng yếu tố thần bí, khác lạ dễ dẫn dụ người tin theo, nhất là người bị bệnh nặng, bệnh lâu năm. Một số trục lợi bằng việc tuyên truyền chữa bệnh bằng tâm linh để bán kinh sách, nước thánh, bùa phép, thuốc chữa bệnh (tự chế); thu phí khi tham gia các lớp tu tập, truyền năng lượng... phục vụ lợi ích người sáng lập và nhóm lãnh đạo.

Có loại hoạt động trái thuần phong mỹ tục của dân tộc, chỉ cần cúng, dâng hoa cầu nguyện là mọi việc đều có thể giải quyết, ốm đau bệnh tật sẽ hết, được xóa nợ, không làm cũng có ăn. Không ít người sau khi theo thường bỏ bê công việc tập trung thực hiện nghi lễ, bỏ thờ cúng Tổ tiên, phản bác việc đi lễ chùa, chỉ coi giáo phái của mình là nhất, tránh xa cộng đồng xã hội (Dương Văn Mình, Hội Thánh Đức Chúa trời Mẹ… coi thờ Tổ tiên là thờ ma quỷ cần phải xóa bỏ). Điều này đi ngược lại với văn hóa truyền thống người Việt, gây đổ vỡ các mối quan hệ gia đình, dòng tộc.

2.2.3 Loại hoạt động có tính cực đoan, chống phá, gây nguy hại cho xã hội và an ninh quốc gia

Hoạt động của loại này tập trung vào tuyên truyền những luận điệu huyền bí, nhảm nhí, phi thực tế (chỉ cần cầu nguyện là không đi làm cũng có ăn, biết chữ, nợ ngân hàng được xoá), tuyên truyền ngày tận thế, ai tin theo sẽ được cứu rỗi được sống trong vàng bạc, giàu sang... vừa để lôi kéo, vừa gây hoang mang, dao động để giữ người tham gia không từ bỏ. Một số hoạt động xâm hại đạo đức, thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự nhân phẩm người khác (đạo Chân không, đạo Chặt ngón tay, đạo Phạ Tốc ở Sơn La... các nhóm này hiện đã bị cơ quan chức năng xóa bỏ). Kỳ thị, công kích các tôn giáo khác (Thanh Hải vô thượng sư công kích Phật giáo, cho rằng Thanh Hải mới là Phật); ép buộc, mua chuộc người tin theo, đặc biệt là cản trở, hù dọa khi người theo có ý định từ bỏ.

Việc phân loại này chỉ là tương đối, trên thực tế có loại vừa hoạt động tôn giáo nhưng vẫn có yếu mê tín, trục lợi; có loại vừa hoạt động tôn giáo, vừa có hành động cực đoan, vừa mang màu sắc chính trị. Do vậy, việc nhận diện để phân loại là bước đi khó khăn, nhưng rất hiệu ích cho công tác quản lý.

3. Đề xuất giải pháp công tác đối với các loại hiện tượng tôn giáo mới

Một là, thống nhất quan điểm đối với các hiện tượng tôn giáo mới. Trên cơ sở nhận diện và phân loại, cần thống nhất quan điểm:

Đối với loại hoạt động thuần túy tôn giáo cần nghiên cứu, hướng dẫn cho đăng sinh hoạt tôn giáo tập trung khi đủ điều kiện theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Quá trình hoạt động cần theo dõi và đánh giá tác động xã hội, tác động tôn giáo làm cơ sở cho việc chấp thuận ở các bước tiếp theo.

Đối với loại hoạt động tôn giáo nhưng mang nặng yếu tố mê tín, trục lợi cần xem xét, đánh giá khách quan và chấn chỉnh để loại bỏ các yếu tố mê tín, trục lợi. Trước mắt chưa xem xét cấp đăng ký sinh hoạt tập trung theo quy định, tăng cường công tác giáo dục, vận động, chỉ rõ để người/nhóm người sáng lập và tin theo chấn chỉnh từ giáo lý đến thực hành tôn giáo, đảm bảo sinh hoạt tôn giáo thuần túy. Chỉ khi các yếu tố vi phạm đã được điều chỉnh, những yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo rõ ràng, thuần túy thì xem xét và hướng dẫn cho đăng ký sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo tập trung theo quy định của pháp luật.

Đối với loại hoạt động mang nặng yếu tố vừa mê tín, trục lợi vừa cực đoan, chống đối “vừa có yếu tà vừa có yếu tố tôn giáo vừa có yếu tố chính trị xấu” cần đấu tranh xóa bỏ. Sử dụng đồng bộ các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, hành chính, hình sự xử lý nghiêm theo pháp luật đối với các hành vi vi phạm. Cần phát hiện sớm và thông tin sớm để người dân, chức sắc, tín đồ các tôn giáo nâng cao cảnh giác, tố giác hỗ trợ các lực lượng chức năng trong xử lý. Khi xử lý cần bóc tách các hành vi vi phạm để không làm tổn thương đến niềm tin của người dân. Trong đó đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền để người tin theo, người dân thấy được mức độ nguy hiểm, hậu quả mà các đối tượng đang lợi dụng niềm tin của người dân để thực hiện. Từ đó họ sẽ ý thức việc từ bỏ, lựa chọn tin theo tín ngưỡng, tôn giáo thuần túy.

Hai là, giải pháp tuyên truyền: Đẩy mạnh việc giáo dục, tuyên truyền sâu rộng trong Nhân dân về giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng Tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công với Tổ quốc, dân tộc và Nhân dân. Phổ biến rộng rãi hướng dẫn số 3420/HD-BVHTTDL ngày 2/10/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và các văn bản liên quan khác. Không “thánh hóa” Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Anh hùng dân tộc thành những vị “thánh, thần, tiên, Phật, đấng cứu thế” … để làm bình phong cho các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, lợi dụng để lừa gạt lôi kéo người theo vì mục đích phi tôn giáo. Phát huy đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo truyền thống góp phần nâng cao hệ giá trị văn hóa dân tộc hạn chế người dân không nghe theo những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các HTTGM.

4. Kết luận

Thời gian qua, công tác đối với HTTGM được cả hệ thống chính trị quan tâm bằng chủ trương và giải pháp. Tuy nhiên, việc nhận diện, phân loại, nắm tình hình cũng như thống nhất nhận thức trong giải quyết còn bất cập do thiếu thông tin, do sự dịch chuyển trong hoạt động của các HTTGM phức tạp, chưa thống nhất về nhận thức dẫn đến kết quả công tác chưa cao đặc biệt chưa rõ ràng, tạo cớ để các tổ chức, cá nhân bịa đặt, vu cáo. Cùng một loại nhưng mỗi địa phương lại có cách giải quyết khác nhau dẫn đến tình trạng chỗ nào thuận lợi thì tìm cách truyền giáo, chỗ nào khó khăn thì bí mật hoạt động hoặc lẩn tránh. Điều đó, ảnh hưởng không tốt đến chủ trương đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tạo cớ để các tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam sử dụng các HTTGM để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền trong lĩnh vực tôn giáo.

Tài liệu tham khảo

1. Hoàng Văn Chung (2014), Ứng xử của một số nhà nước trên thế giới với hiện tượng tôn giáo mới, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 9.

2. Lê Tâm Đắc (2015), Mấy đặc điểm về các “hiện tượng tôn giáo mới” ở miền Bắc hiện nay, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4 (142).

3. Lê Thị Liên (2017), Khảo sát, nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp đối với hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam hiện nay, dự án điều tra khảo sát.

4. Nguyễn Văn Minh (2016), Các “hiện tượng tôn giáo mới” ở vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên hiện nay, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 (100).

5. Nguyễn Quốc Tuấn (2012), Về “hiện tượng tôn giáo mới”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 12/2011 và số 1/2012.

6. Chu Văn Tuấn (2022), Nhận diện các tổ chức, hội nhóm trái pháp luật mang danh nghĩa tôn giáo và quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, đăng trên Tạp chí điện tử Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam.

7. Quốc hội (2026),Luật tín ngưỡng, tôn giáo.