Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Nhận diện vấn đề an ninh phi truyền thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La

TS. Lê Văn Quang - Quàng Vân Khánh - 09:59, 06/07/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề an ninh phi truyền thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và thực tiễn tổ chức công tác bảo đảm an ninh, trật tự của lực lượng Công an nhân dân, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đảm bảo an ninh phi truyền thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La thời gian tới.

Biến đổi khí hậu, thiên tai bão lũ là một trong những nguyên nhân dẫn đến vấn đề an ninh phi truyền thống ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Biến đổi khí hậu, thiên tai bão lũ là một trong những nguyên nhân dẫn đến vấn đề an ninh phi truyền thống ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Từ khóa: Sơn La; An ninh phi truyền thống; Dân tộc thiểu số; An ninh, trật tự.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, các thách thức an ninh phi truyền thống (ANPTT) ngày càng gia tăng, mang tính đa chiều, xuyên quốc gia và tác động trực tiếp đến ổn định, phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Nhận thức rõ xu thế đó, Đảng ta qua các văn kiện như Nghị quyết số 28-NQ/TW (2013), Nghị quyết số 51-NQ/TW (2019) và Văn kiện Đại hội XIII, XIV đã khẳng định bảo đảm ANPTT là nhiệm vụ trọng yếu, yêu cầu chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, gắn với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực dự báo chiến lược. Trong quá trình triển khai các chủ trương trên, tỉnh Sơn La đang chịu tác động rõ nét của nhiều yếu tố ANPTT, như: biến đổi khí hậu, thiên tai, tội phạm ma túy xuyên biên giới và các nguy cơ từ không gian mạng. Những đặc thù về địa lý, dân cư phân tán, trình độ phát triển không đồng đều làm gia tăng tính dễ bị tổn thương và tiềm ẩn nhiều rủi ro về an ninh, trật tự.

Trong khi đó, các nghiên cứu về ANPTT tại vùng đồng bào DTTS tỉnh Sơn La còn hạn chế và chưa được tiếp cận một cách hệ thống. Nghiên cứu vấn đề này không chỉ góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận về ANPTT, làm rõ đặc thù của các nguy cơ phi truyền thống ở khu vực miền núi, mà còn cung cấp cơ sở khoa học phục vụ nhận diện, đánh giá và nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an ninh, trật tự tại địa phương. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn trong việc hỗ trợ nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa, ứng phó với các rủi ro, là tài liệu tham khảo cho các địa bàn có điều kiện tương đồng.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận và khung phân tích

ANPTT được hiểu là các mối đe dọa an ninh không mang tính quân sự truyền thống, song có khả năng tác động trực tiếp đến ổn định chính trị, trật tự xã hội và phát triển bền vững của quốc gia. Các vấn đề ANPTT thường có tính chất xuyên biên giới, liên ngành và gắn với các yếu tố như môi trường, kinh tế - xã hội, dân tộc, tôn giáo và công nghệ.

Đối với khu vực miền núi, biên giới, vùng đồng bào DTTS, ANPTT có những biểu hiện đặc thù. Các nguy cơ không chỉ xuất phát từ yếu tố tự nhiên như thiên tai, biến đổi khí hậu mà còn gắn chặt với các vấn đề xã hội như xung đột dân tộc, tôn giáo, tội phạm ma túy, di cư tự do và những tác động từ quá trình hội nhập, chuyển đổi số. Những yếu tố này có mối quan hệ đan xen, tác động qua lại, làm gia tăng tính phức tạp và khó kiểm soát của các nguy cơ an ninh. Bài viết xây dựng khung phân tích ANPTT tại vùng đồng bào DTTS tỉnh Sơn La theo bốn nhóm vấn đề chính: (i) các vấn đề ANPTT về dân tộc, tôn giáo và xã hội; (ii) các vấn đề ANPTT về ma túy và tội phạm xuyên biên giới; (iii) các vấn đề ANPTT trên không gian mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao; (iv) các vấn đề ANPTT về môi trường, thiên tai và sinh kế của đồng bào DTTS. Khung phân tích này cho phép nhận diện toàn diện các vấn đề ANPTT trong mối quan hệ tổng thể, làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp.

2.2. Thực trạng an ninh phi truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La

Tỉnh Sơn La có hơn 1,3 triệu dân, gồm 40 dân tộc anh em cùng sinh sống. Do trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng còn chênh lệch, đời sống của một bộ phận đồng bào DTTS gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều đang đặt ra những vấn đề cần quan tâm trong công tác quản lý xã hội và bảo đảm an ninh, trật tự.

Thứ nhất, các vấn đề ANPTT về dân tộc, tôn giáo tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp.

Xung đột dân tộc chủ yếu biểu hiện dưới dạng mâu thuẫn lợi ích, đặc biệt là tranh chấp đất đai, tài nguyên, sinh kế. Các vụ việc khiếu kiện liên quan đến đất đai chiếm tỷ lệ lớn, có xu hướng kéo dài qua nhiều năm, chưa được giải quyết dứt điểm, làm ảnh hưởng đến tâm lý và niềm tin của một bộ phận người dân. Trong điều kiện cư trú xen kẽ giữa nhiều dân tộc, những mâu thuẫn kinh tế - xã hội dễ bị “dân tộc hóa”, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh xung đột giữa các nhóm cộng đồng. Tình trạng di cư tự do, chênh lệch phát triển giữa các vùng, những hạn chế trong công tác quản lý đất đai làm gia tăng các yếu tố bất ổn. Giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh ghi nhận 18 vụ khiếu kiện phức tạp liên quan đến đồng bào DTTS, chủ yếu xoay quanh vấn đề đất đai và giải phóng mặt bằng, phần lớn là các vụ việc tồn đọng kéo dài từ những năm trước, chưa được giải quyết triệt để, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương.

Về tôn giáo, toàn tỉnh hiện có các tôn giáo chính như: Công giáo, Tin Lành, Phật giáo, Cơ đốc giáo với hàng chục nghìn tín đồ, trong đó Tin Lành và Công giáo phát triển nhanh tại các địa bàn đồng bào Mông, Thái sinh sống. Nhiều điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo chưa đăng ký vẫn tồn tại; xuất hiện các hiện tượng truyền đạo trái phép, lợi dụng không gian mạng để lôi kéo tín đồ như tổ chức “Bà Cô Dợ”, “Hội thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng”. Việc mở rộng địa bàn, phát triển tín đồ tại các khu vực “trắng” tôn giáo và xu hướng chuyển đổi tín ngưỡng trong một bộ phận đồng bào Mông, Thái làm phát sinh mâu thuẫn trong gia đình, dòng họ, ảnh hưởng đến phong tục truyền thống và tiềm ẩn nguy cơ mất đoàn kết trong cộng đồng dân cư.

Thứ hai, các vấn đề ANPTT về ma túy và tội phạm xuyên biên giới.

Giai đoạn 2021-2025, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 5.927 vụ với 7.662 đối tượng; thu giữ hơn 158 kg heroin, gần 28 kg thuốc phiện, trên 2,5 triệu viên ma túy tổng hợp cùng nhiều vũ khí. Các con số này phản ánh tỉnh Sơn La là địa bàn trọng điểm về ma túy ở khu vực Tây Bắc. Mặc dù công tác đấu tranh đạt nhiều kết quả, song tình trạng thẩm lậu ma túy, trồng cây chứa chất ma túy và tái phạm vẫn còn, cho thấy tính chất dai dẳng và khó kiểm soát của loại tội phạm này.

Thứ ba, các vấn đề ANPTT trên không gian mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Các hành vi phổ biến gồm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng, giả mạo cơ quan chức năng, chiếm quyền tài khoản cá nhân và phát tán thông tin xấu độc. Giai đoạn 2021-2025, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý khoảng 150 vụ phạm tội sử dụng công nghệ cao, trong đó có 55 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua không gian mạng. Loại tội phạm này đã xuất hiện tại vùng cao, tác động trực tiếp đến đồng bào DTTS. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hạn chế về kỹ năng số, rào cản ngôn ngữ, điều kiện kinh tế khó khăn và tâm lý dễ tin của người dân, khiến nhiều người trở thành nạn nhân của các chiêu trò “việc nhẹ, lương cao”, “hỗ trợ tài chính”, hoặc bị lôi kéo vào các hành vi vi phạm pháp luật.

Thứ tư, các vấn đề ANPTT về môi trường, thiên tai, sinh kế đang tác động rõ nét đến đời sống đồng bào.

Ô nhiễm môi trường tại nông thôn, vùng sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi tập trung có xu hướng gia tăng, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước, đất và không khí chưa được xử lý hiệu quả. Biến đổi khí hậu làm gia tăng mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất và hạn hán kéo dài. Phân hóa mạnh giữa mùa mưa và mùa khô làm mất cân đối nguồn nước, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư. Đối với vùng đồng bào DTTS, nơi sinh kế phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, những tác động này càng nghiêm trọng, có thể dẫn đến mất mùa, nghèo đói và gia tăng di cư tự phát.

2.3. Nguyên nhân

* Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, tạo nền tảng phát sinh các nguy cơ ANPTT.

Hơn 83,7% dân số là đồng bào DTTS, sinh sống chủ yếu tại vùng sâu, vùng xa. Theo phân định giai đoạn 2026 - 2030, 100% số xã và thôn, bản thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi, trong đó 97,3% là địa bàn đặc biệt khó khăn và khó khăn cho thấy khó khăn không mang tính cục bộ mà phổ biến trên toàn tỉnh. Mặc dù hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục, thông tin liên lạc đã được cải thiện, song vẫn chưa đồng bộ; đời sống của một bộ phận người dân còn thấp, thu nhập thiếu ổn định, phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ. Trình độ dân trí không đồng đều làm hạn chế khả năng tiếp cận, xử lý thông tin. Khi người dân vừa thiếu thông tin chính thống, vừa thiếu năng lực tiếp nhận và sàng lọc thông tin chính là môi trường thuận lợi để các đối tượng xấu lợi dụng tuyên truyền sai lệch, lôi kéo, kích động, thậm chí chỉ cần tác động bằng lợi ích vật chất nhỏ cũng có thể gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự.

Thứ hai, sự phát triển nhanh của Internet và mạng xã hội vượt trước năng lực tiếp nhận của người dân.

Tốc độ phổ cập công nghệ diễn ra nhanh hơn quá trình nâng cao kỹ năng số khiến một bộ phận người dân chưa có khả năng nhận diện và kiểm chứng thông tin xấu độc. Các đối tượng xấu lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền thông tin sai lệch, xuyên tạc các vấn đề dân tộc, tôn giáo, đời sống dân sinh dưới nhiều hình thức tinh vi. Trong điều kiện hạn chế về nhận thức và kỹ năng số, những thông tin này dễ tác động đến tâm lý người dân, làm suy giảm niềm tin vào chính quyền cơ sở và gia tăng nguy cơ bị lôi kéo tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật.

Thứ ba, tác động từ các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là hoạt động của các tổ chức phản động và phần tử xấu.

Sơn La có đặc điểm dân cư đa dân tộc, có quan hệ thân tộc xuyên biên giới. Thông qua mạng xã hội, ứng dụng liên lạc và quan hệ thân tộc, các tổ chức phản động xây dựng lực lượng, hình thành các “đầu mối” trong nội địa, thậm chí hỗ trợ tài chính và phương thức hoạt động. Khi kết hợp với các yếu tố nội tại, tác động từ bên ngoài đóng vai trò như “chất xúc tác”, làm cho các vấn đề ANPTT phát sinh nhanh hơn, phức tạp hơn và khó kiểm soát hơn.

Thứ tư, sản xuất và sinh kế phụ thuộc lớn vào tự nhiên.

Canh tác nương rẫy, mở rộng diện tích sản xuất chưa gắn với quy hoạch bền vững đã tạo áp lực lớn lên tài nguyên rừng, đất và nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, lũ quét, sạt lở đất diễn ra thường xuyên hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế. Khi đời sống bấp bênh, người dân dễ rơi vào trạng thái dễ bị tổn thương, từ đó dễ bị lôi kéo bởi các yếu tố tiêu cực. Do đó, vấn đề sinh kế không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là “nguyên nhân gốc rễ” làm gia tăng các nguy cơ về ANPTT trên địa bàn.

* Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực, địa bàn còn hạn chế.

Địa bàn rộng, địa hình phức tạp, lực lượng, phương tiện còn thiếu, hiệu lực quản lý nhà nước ở cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu, biên chế Công an cấp xã thiếu so với định mức, trong khi khối lượng công việc ngày càng lớn, làm ảnh hưởng đến công tác nắm tình hình và xử lý vụ việc. Nguồn lực tài chính, trang thiết bị hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đặc biệt là trong đấu tranh với tội phạm công nghệ cao. Công tác chuyên môn ở cơ sở quá tải, cán bộ phải xử lý nhiều lĩnh vực khác nhau, trong khi kỹ năng chuyên sâu còn hạn chế. Công tác nắm tình hình, phòng ngừa từ sớm, từ xa có thời điểm chưa kịp thời, tạo ra những “khe hở trong quản lý” để các đối tượng xấu lợi dụng.

Thứ hai, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thực sự hiệu quả.

Ở một số địa bàn, nội dung và hình thức tuyên truyền còn đơn điệu, chưa phù hợp với đặc điểm văn hóa, trình độ nhận thức của đồng bào DTTS. Rào cản ngôn ngữ làm người dân hiểu chưa đầy đủ hoặc sai lệch pháp luật; chưa phát huy hiệu quả vai trò của người có uy tín trong cộng đồng làm hạn chế khả năng lan tỏa thông tin. Hệ quả là nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân chưa vững chắc, dẫn đến dễ bị lôi kéo, thậm chí vô tình vi phạm pháp luật.

Thứ ba, sự phối hợp giữa các lực lượng chức năng chưa thật sự chặt chẽ.

Các vấn đề ANPTT mang tính liên ngành, liên lĩnh vực nhưng cơ chế phối hợp ở một số nơi chưa đồng bộ. Trao đổi thông tin chưa kịp thời, dẫn đến chậm phát hiện và xử lý vụ việc. Cơ chế phối hợp đôi khi mang tính hình thức, chưa phân định rõ trách nhiệm giữa các lực lượng, dẫn đến chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Chia sẻ dữ liệu giữa các ngành còn hạn chế, ảnh hưởng đến công tác dự báo và phòng ngừa… Những hạn chế này làm suy giảm sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong bảo đảm an ninh, trật tự.

3. Một số giải pháp bảo đảm an ninh trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Thứ nhất, phát triển kinh tế - xã hội gắn với nâng cao đời sống và sinh kế bền vững cho đồng bào DTTS

Đây là giải pháp nền tảng, nhằm xử lý các “nguyên nhân gốc rễ” của vấn đề ANPTT. Cần tiếp tục ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng thiết yếu tại vùng sâu, vùng xa. Đẩy mạnh xây dựng các mô hình sinh kế bền vững gắn với lợi thế địa phương. Hỗ trợ người dân tiếp cận vốn, khoa học kỹ thuật và thị trường nhằm nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững. Cải thiện đời sống không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn góp phần nâng cao nhận thức, giảm tính dễ bị tổn thương và hạn chế nguy cơ bị lôi kéo vào các hoạt động vi phạm pháp luật.

Thứ hai, nâng cao nhận thức pháp luật và năng lực số cho người dân, tăng “sức đề kháng” trước thông tin xấu độc

Đổi mới mạnh mẽ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với văn hóa, ngôn ngữ và trình độ nhận thức của đồng bào DTTS. Nội dung tuyên truyền ngắn gọn, dễ hiểu, gắn với tình huống thực tiễn; hình thức đa dạng như trực quan, sân khấu hóa, truyền thông qua mạng xã hội. Nâng cao kỹ năng số, kỹ năng nhận diện thông tin sai lệch, bảo mật thông tin cá nhân cho người dân. Xây dựng các kênh thông tin chính thống gần gũi, dễ tiếp cận giúp định hướng dư luận, hạn chế sự lan truyền của thông tin xấu độc. Trọng tâm của giải pháp này là hình thành khả năng tự nhận diện, tự sàng lọc và tự bảo vệ của người dân trong môi trường thông tin hiện nay.

Thứ ba, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và năng lực của lực lượng chức năng

Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, bổ sung biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là lực lượng Công an cơ sở. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao, an ninh mạng và các vấn đề ANPTT mới nổi. Đầu tư trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, cải thiện điều kiện cơ sở vật chất để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, dự báo và phòng ngừa từ sớm, từ xa, tránh để phát sinh các điểm nóng về an ninh, trật tự. Đây là giải pháp nhằm khắc phục các “khe hở quản lý”, nâng cao khả năng kiểm soát và xử lý các vấn đề ANPTT.

Thứ tư, đẩy mạnh phối hợp liên ngành và phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở

Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng chức năng theo hướng rõ trách nhiệm, thống nhất quy trình và kịp thời trong trao đổi thông tin. Tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, nâng cao hiệu quả phân tích, dự báo, xử lý tình huống. Phát huy vai trò của chính quyền cơ sở, các tổ chức chính trị - xã hội, già làng, trưởng bản và người có uy tín trong cộng đồng trong công tác tuyên truyền, vận động, nắm tình hình địa bàn. Xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc, lấy người dân làm trung tâm góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa từ cơ sở, tạo nền tảng bền vững cho bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn.

4. Kết luận

Các vấn đề ANPTT trong vùng đồng bào DTTS tỉnh Sơn La đang diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng, đan xen giữa nhiều lĩnh vực. Những thách thức này không chỉ xuất phát từ điều kiện khách quan về địa lý, kinh tế - xã hội mà còn chịu tác động từ các hạn chế trong công tác quản lý, tuyên truyền và phối hợp giữa các lực lượng chức năng. Nếu không được nhận diện đầy đủ và xử lý kịp thời, các yếu tố này có thể làm gia tăng nguy cơ mất ổn định an ninh, trật tự và ảnh hưởng đến phát triển bền vững của địa phương. Do đó, triển khai đồng bộ các giải pháp, gắn với đặc thù vùng đồng bào DTTS có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao hiệu quả bảo đảm ANPTT trong giai đoạn hiện nay.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Thị Hà Thu (2020), Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo đảm an ninh phi truyền thống trong thời đại 4.0, Tạp chí An toàn thông tin điện tử.

2. Nguyễn Linh Khiếu (2018), An ninh phi truyền thống ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Cộng sản.

3. Tạ Ngọc Tuấn, Phạm Thành Dung, Đoàn Minh Huấn (2015), An ninh phi truyền thống: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB. Lý luận chính trị, Hà Nội.

4. Báo Sơn La (2024), Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Báo Sơn La Online, https://baosonla.vn/xa-hoi/baodam-quyen-tu-do-tin-nguong-ton-giao-ZX2QWnIHR.html

5. Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La (2025), Sơn La triển khai đề án tăng cường chuyển đổi số lĩnh vực công tác dân tộc đến năm 2030, Cổng thông tin điện tử tỉnh Sơn La, https:// sonla.gov.vn/tin-tuc-hoat-dong-cds/son-la-trien-khai-de-antang-cuong-chuyen-doi-so-linh-vuc-cong-tac-dan-toc-dennam-2030-%20920782