Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Nhìn lại kết quả bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc giai đoạn 2021-2025

Phương Thảo - 07:17, 03/09/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Văn hóa các dân tộc thiểu số là bộ phận cấu thành quan trọng, tạo nên bản sắc độc đáo và sự thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Từ sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021 đến nay, nhận thức về vai trò của văn hóa dân tộc đã có bước chuyển biến căn bản, từ chức năng giải trí, tinh thần sang trở thành nguồn lực kinh tế và biểu tượng quốc gia. Do vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc không đơn thuần chỉ còn là gìn giữ những di sản của quá khứ mà trở thành nhiệm vụ chiến lược nhằm khơi thông nguồn lực nội sinh, tạo động lực cho sự phát triển bền vững đất nước. Giai đoạn 2021-2025, Chính phủ triển khai quyết liệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có Dự án 6 tập trung chuyên sâu vào việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch. Bài viết đánh giá một số kết quả nổi bật trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số tại Việt Nam giai đoạn này. Thông qua việc phân tích các kết quả về xây dựng thiết chế văn hóa, đào tạo nhân lực và tổ chức sự kiện, bài viết làm rõ sự chuyển dịch tư duy từ bảo tồn tĩnh sang bảo tồn “động” nhằm phát huy vai trò to lớn của văn hóa dân tộc đóng góp vào sự phát triển đất nước.

Làng du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn - nơi bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa người Tày xứ Lạng
Làng du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn - nơi bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa người Tày xứ Lạng

Từ khóa: Văn hóa dân tộc; Bảo tồn di sản; Dân tộc thiểu số; Phát triển bền vững.

1. Những kết quả nổi bật trong công tác văn hóa dân tôc giai đoạn 2021-2025

Giai đoạn 2021-2025, lĩnh vực văn hóa dân tộc ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ từ đầu tư dàn trải sang đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, lấy hiệu quả sử dụng thực tế làm thước đo.

Thứ nhất, hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở được xác định là xương sống nhằm duy trì và phát triển đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số. 5 năm qua đánh dấu bước tiến lớn trong việc hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa và môi trường văn hóa đọc. Cụ thể, đối với hạ tầng thiết chế văn hóa thôn bản, công tác đầu tư không chỉ dừng lại ở việc xây dựng số lượng công trình mà đi sâu vào việc nâng cao chất lượng vận hành. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tập trung hỗ trợ trang thiết bị chuyên dụng cho 31 nhà văn hóa thôn tại 06 tỉnh miền núi phía Bắc - những khu vực trọng yếu về an ninh quốc phòng và biên giới, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa cơ sở, tạo không gian sinh hoạt cộng đồng cho người dân.

Tại địa phương, 3.220 nhà văn hóa, khu thể thao thôn, bản được xây mới hoặc cải tạo đã tạo nên một mạng lưới không gian sinh hoạt cộng đồng rộng khắp. Đây chính là không gian để các loại hình nghệ thuật truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số như hát then, đàn tính, múa khèn... có đất diễn; đồng thời là nơi hội họp, thắt chặt sợi dây đoàn kết cộng đồng. Việc trang bị các phương tiện âm thanh, ánh sáng hiện đại đã giúp các buổi sinh hoạt văn hóa trở nên hấp dẫn hơn, thu hút được đối tượng thanh thiếu niên tham gia vào dòng chảy văn hóa truyền thống.

Trong kỷ nguyên số, việc duy trì văn hóa đọc tại vùng sâu, vùng xa là một thách thức lớn, Dự án đã xây dựng 150 tủ sách cộng đồng tại các xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi là một nỗ lực điển hình nhằm thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức. Điểm khác biệt của giai đoạn này là danh mục sách được lựa chọn kỹ lưỡng, phù hợp với đặc thù vùng miền: từ sách hướng dẫn kỹ thuật nông - lâm nghiệp, pháp luật đến các ấn phẩm văn học, nghệ thuật đặc trưng của các dân tộc thiểu số. Các tủ sách đã trở thành trung tâm thông tin tại cơ sở, góp phần quan trọng vào việc bài trừ hủ tục lạc hậu, nâng cao dân trí và khả năng tự bảo vệ bản sắc văn hóa trước những luồng thông tin độc hại. Kết quả thực tiễn cho thấy, tại các địa phương có tủ sách hoạt động hiệu quả, tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động cộng đồng và hiểu biết về chính sách dân tộc tăng lên rõ rệt, khẳng định vai trò của văn hóa đọc như một công cụ sắc bén trong công tác tuyên truyền, giáo dục.

Thứ hai, trong công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nguồn nhân lực được xem là “linh hồn” của di sản. Giai đoạn 2021-2025 ghi nhận sự đổi mới căn bản trong tư duy đào tạo, không chỉ đào tạo cán bộ quản lý mà tập trung mạnh mẽ vào bồi dưỡng nội lực cho các chủ thể văn hóa tại cơ sở. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trực tiếp tổ chức trên 60 lớp tập huấn chuyên môn dành cho cán bộ văn hóa, nghệ nhân và những người có uy tín trong cộng đồng. Các tỉnh, thành đã chủ động triển khai trên 450 lớp tập huấn với tổng số 17.500 lượt người tham gia. Điểm sáng của hoạt động này là sự tham gia trực tiếp của các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng - những “bảo tàng sống” của bản làng, của dân tộc. Việc trang bị kiến thức quản lý và kỹ năng bảo tồn cho nhóm đối tượng này giúp di sản được gìn giữ một cách tự nhiên và bền vững nhất ngay trong lòng cộng đồng. Đáng chú ý là chương trình tập huấn trong giai đoạn này không còn nặng về lý thuyết mà bám sát yêu cầu thực tiễn của từng vùng miền. Các chuyên đề tập trung vào ba trụ cột chính: Kỹ năng tổ chức và quản lý: Nâng cao năng lực vận hành các thiết chế văn hóa và tổ chức các sự kiện văn hóa cộng đồng bài bản; Kỹ năng bảo tồn di sản phi vật thể: Hướng dẫn các phương pháp sưu tầm, lưu giữ và truyền dạy dân ca, dân vũ, nhạc cụ truyền thống để tránh nguy cơ mai một; Kỹ năng phát triển kinh tế văn hóa: Đào tạo về du lịch cộng đồng, giúp người dân hiểu rõ cách biến bản sắc văn hóa thành sản phẩm du lịch có giá trị, tạo ra sinh kế bền vững.

Kết quả quan trọng nhất của công tác đào tạo nhân lực chính là việc phát huy rõ nét vai trò chủ thể của người dân. Nghệ nhân không chỉ là người biểu diễn mà đã trở thành người truyền dạy, người dẫn dắt cộng đồng trong việc thực hành di sản. Nhận thức của đồng bào về giá trị bản sắc đã có sự thay đổi từ thụ động bảo tồn sang chủ động phát huy gắn với sinh kế, tạo ra một vòng lặp tích cực: khi văn hóa đem lại lợi ích kinh tế, người dân sẽ càng có ý thức giữ gìn và bảo vệ bản sắc, tạo tiền đề vững chắc cho việc hình thành các sản phẩm văn hóa - du lịch đặc trưng tại địa phương.

Thứ ba, sự thay đổi căn bản trong chiến lược bảo tồn giai đoạn 2021-2025 chính là việc chuyển dịch từ bảo tồn “tĩnh” - lưu trữ trong bảo tàng, tư liệu sang bảo tồn “động”, tức là duy trì sự sống của di sản trong không gian văn hóa thực tế, được thể hiện rõ nét qua hai khía cạnh: quy mô tổ chức sự kiện quốc gia và sức sống của các mô hình văn hóa tại cơ sở.

Về tổ chức các sự kiện văn hóa quy mô khu vực và toàn quốc, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ trì tổ chức 13 ngày hội, liên hoan văn hóa dân tộc cấp khu vực và toàn quốc, tạo không gian giao lưu, quảng bá và tôn vinh giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số. Các sự kiện được tổ chức bài bản, có sức lan tỏa rộng, thu hút sự tham gia của đông đảo nghệ nhân, diễn viên quần chúng và Nhân dân các địa phương. Duy trì tổ chức các sự kiện thường niên quy mô quốc gia như: Ngày hội “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc”; Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4); Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản văn hóa Việt Nam”. Việc tổ chức các sự kiện văn hóa không dừng lại ở tính trình diễn mà đã trở thành không gian giao lưu, quảng bá và tôn vinh giá trị đặc trưng của cộng đồng 54 dân tộc, tạo được dấu ấn xã hội mạnh mẽ.

Điểm cốt lõi của bảo tồn “động” là đưa di sản trở lại đời sống thường nhật của người dân thông qua hệ thống câu lạc bộ và đội văn nghệ. Giai đoạn 2021-2025 ghi nhận việc duy trì hơn 700 câu lạc bộ văn hóa dân gian và 5.760 đội văn nghệ truyền thống ở cơ sở đã tạo ra môi trường trao truyền di sản liên thế hệ bền vững nhất. Tại đây, các loại hình dân ca, dân vũ, nhạc cụ và nghề thủ công được thực hành thường xuyên, giúp di sản không bị đứt gãy trong lòng cộng đồng. Các địa phương đã phục dựng trên 150 lễ hội truyền thống. Bộ Văn hóa đã tổ chức bảo tồn, phục dựng trên 30 lễ hội truyền thống tiêu biểu của các dân tộc thiểu số, góp phần khôi phục không gian văn hóa, nghi lễ và tập quán đặc trưng của cộng đồng. Đáng chú ý, hiệu quả của mô hình bảo tồn “động” thể hiện ở chỗ các lễ hội này được cấu trúc thành các sản phẩm du lịch hấp dẫn, gắn với việc hình thành các làng bản văn hóa truyền thống và du lịch cộng đồng. Với 48 làng, bản văn hóa đã đi vào hoạt động, bước đầu hình thành các sản phẩm văn hóa - du lịch đặc trưng tại địa phương, giá trị văn hóa đã thực sự biến thành nguồn lực phát triển kinh tế, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và tạo nguồn thu cho người dân. Di sản không chỉ được gìn giữ mà còn được nuôi dưỡng bằng chính lợi ích kinh tế mà nó mang lại cho cộng đồng chủ thể.

Bên cạnh đó, Bộ Văn hóa còn chủ trì thành lập hơn 20 câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian tại các thôn vùng dân tộc thiểu số và khu tái định cư; Triển khai 30 chương trình nghiên cứu bảo tồn văn hóa phi vật thể, trong đó có 07 chương trình bảo tồn chuyên sâu của các dân tộc ít người, tập trung vào gìn giữ ngôn ngữ, trang phục, phong tục tập quán và tri thức dân gian, góp phần hạn chế nguy cơ mai một, thất truyền di sản.

Thứ tư, phát huy vai trò “ngôi nhà chung” của các dân tộc. Giai đoạn 2021-2025, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam không chỉ đóng vai trò là một điểm đến du lịch, mà đã thực sự trở thành ngôi nhà chung, một không gian bảo tồn thực nghiệm và diễn xướng di sản văn hóa dân tộc có quy mô lớn nhất cả nước. Vai trò này được khẳng định qua ba khía cạnh chiến lược: (i) Duy trì sức sống của di sản thông qua sự hiện diện của chủ thể. Điểm khác biệt cốt lõi của Làng Văn hóa so với các bảo tàng truyền thống là sự hiện diện thường xuyên của chính các chủ thể văn hóa. Giai đoạn này, Làng đã duy trì hoạt động ổn định của 16 nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số đến từ khắp mọi miền đất nước. Việc các nghệ nhân sinh sống, thực hành nghi lễ và sản xuất thủ công ngay tại không gian này đã biến di sản thành một thực thể sống, giúp khách tham quan có cái nhìn chân thực và đa chiều thay vì chỉ quan sát hiện vật tĩnh. (ii) Là trung tâm kết nối và điều phối các hoạt động văn hóa quy mô quốc gia, Làng là điểm hội tụ các dòng chảy văn hóa. 5 năm qua, Làng đã đón tiếp 311 lượt cộng đồng với hơn 4.600 lượt nghệ nhân, già làng, người có uy tín tham gia các hoạt động chuyên đề. Các sự kiện thường niên như Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) hay các lễ hội tái hiện (lễ mừng cơm mới, lễ cấp sắc...) đã biến nơi đây thành một diễn đàn văn hóa quốc gia, nơi các giá trị đặc trưng được tôn vinh và lan tỏa mạnh mẽ nhất đến công chúng và bạn bè quốc tế. (iii) Chức năng giáo dục trải nghiệm và hình thành ý thức di sản cho thế hệ trẻ: Kết quả thống kê cho thấy hiệu quả xã hội rõ rệt của mô hình này. Trong số gần 1 triệu lượt khách tham quan mỗi năm, có đến 50% là học sinh và sinh viên. Đây là con số có ý nghĩa trong việc bồi đắp lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo tồn cho thế hệ kế cận. Đến đây, du khách được trải nghiệm thực hành dệt thổ cẩm, chế tác nhạc cụ hay tham gia các trò chơi dân gian… giúp các giá trị văn hóa không bị đóng băng mà được lưu truyền và tiếp biến một cách tự nhiên. Đây chính là mô hình mẫu cho việc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch bền vững, tạo tiền đề để triển khai các mô hình tương tự tại các địa phương trong giai đoạn tiếp theo.

Thứ năm, cùng với các hoạt động ở cấp Trung ương, các địa phương đã quan tâm đầu tư phát triển hạ tầng và hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở, tạo nền tảng quan trọng cho việc tổ chức các hoạt động văn hóa, bảo tồn di sản và phát triển du lịch tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các địa phương đã hỗ trợ đầu tư phát triển 69 điểm đến du lịch tiêu biểu, tập trung vào những địa bàn có tiềm năng về cảnh quan, văn hóa và bản sắc dân tộc. Tổ chức bảo tồn, phục dựng trên 150 lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số, tập trung vào việc khôi phục nghi lễ, không gian văn hóa và các yếu tố truyền thống đặc trưng. Nhiều lễ hội sau khi được phục dựng không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người dân mà còn trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa địa phương và thu hút du khách.

Hệ thống các tổ chức sinh hoạt văn hóa cộng đồng tiếp tục được củng cố và phát triển. Đã thành lập và duy trì hơn 700 câu lạc bộ văn hóa dân gian, hoạt động thường xuyên với các nội dung phong phú như hát dân ca, trình diễn nhạc cụ truyền thống, truyền dạy nghề thủ công và các hình thức sinh hoạt văn hóa đặc trưng của từng dân tộc. Đây là môi trường quan trọng để bảo tồn, trao truyền di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng. Duy trì hoạt động tại cơ sở 5.760 đội văn nghệ truyền thống đóng vai trò nòng cốt trong tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng. Các đội văn nghệ không chỉ tham gia biểu diễn phục vụ các sự kiện chính trị, văn hóa tại địa phương mà còn góp phần giữ gìn, lan tỏa các giá trị nghệ thuật dân gian, nâng cao đời sống tinh thần của người dân.

2. Kết luận

Qua các kết quả của giai đoạn 2021-2025, có thể thấy công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đã có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước đưa di sản văn hóa trở thành một phần sống động trong đời sống cộng đồng, đồng thời tạo nền tảng để phát triển các hoạt động du lịch văn hóa và kinh tế địa phương một cách bền vững. Thành công lớn nhất trong giai đoạn này là đã xác lập được vị thế của văn hóa dân tộc như một nguồn lực nội sinh cho phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa không còn là một thực thể đứng ngoài các hoạt động kinh tế mà ngược lại, các giá trị truyền thống đã trở thành “vốn” đầu tư đặc biệt, tạo ra sinh kế bền vững cho đồng bào thông qua các mô hình du lịch cộng đồng và công nghiệp văn hóa tại cơ sở. Bên cạnh đó, vai trò chủ thể của cộng đồng là nhân tố quyết định sự bền vững. Thực tiễn triển khai cho thấy, mọi chính sách bảo tồn chỉ thực sự hiệu quả khi người dân - những chủ thể của di sản cảm thấy tự hào và được thụ hưởng lợi ích trực tiếp từ chính văn hóa của mình. Nâng cao năng lực cho đội ngũ nghệ nhân, người có uy tín và tạo điều kiện cho thế hệ trẻ tiếp cận với di sản tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam cũng là giải pháp tốt để giải quyết bài toán đứt gãy văn hóa trong bối cảnh hiện đại.

Văn hóa dân tộc không chỉ là di sản của quá khứ mà đã và đang trở thành tài sản của hiện tại và tương lai, đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững của quốc gia.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2026), Báo cáo Công tác văn hóa dân tộc giai đoạn 2021-2025 và định hướng nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2026 - 2031.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa.