Bộ trưởng, Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang trao đổi với đội ngũ cán bộ, y bác sĩ công tác tại Trạm Y tế xã Cam Hiệp, tỉnh Khánh Hòa về những thuận lợi, khó khăn trong công tác tác chăm sóc sức khỏe cho người dânTừ khóa: Chương trình Mục tiêu quốc gia; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Phân cấp, phân quyền.
1. Đặt vấn đề
Giai đoạn 2021-2025, ba Chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) gồm: Xây dựng nông thôn mới, Giảm nghèo bền vững và Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) được tiến hành song song. Thực tiễn triển khai bộc lộ nhiều hạn chế như sự giao thoa về địa bàn, đối tượng thụ hưởng, đầu mối quản lý, văn bản hướng dẫn nhiều, việc lồng ghép nguồn lực chưa đạt hiệu quả như mong muốn... Những tồn tại này làm giảm hiệu quả đầu tư, kéo dài thời gian tổ chức thực hiện và ảnh hưởng đến khả năng phát huy tổng hợp các nguồn lực phát triển.
Sau tổng kết giai đoạn 2021-2025, Quốc hội đã phê duyệt chủ trương đầu tư và Bộ trưởng Bộ Nông 18 nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 417/ QĐ-BNNMT ngày 31/01/2026 phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ năm 2026-2030 (Chương trình MTQG 417). Chương trình đã tổ chức lại mục tiêu, nhiệm vụ và nguồn lực trong một khuôn khổ thống nhất, nhằm giảm chồng chéo về địa bàn, đối tượng, nội dung hỗ trợ và nâng cao hiệu quả quản lý.
Chương trình được triển khai trong bối cảnh cả nước thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Yêu cầu đặt ra là bảo đảm chính sách được thực hiện liên tục, không để gián đoạn ở cơ sở; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từ cơ quan, từng cấp chính quyền. Việc tổ chức lại không làm giảm mức độ ưu tiên đối với xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS&MN, an toàn khu, biên giới và hải đảo. Vì vậy, cần có sự đổi mới phương thức quản lý, tăng cường phân cấp, phân quyền và xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành trong tổ chức thực hiện.
Phân tích những điểm mới của Chương trình MTQG 417 vì thế có ý nghĩa quan trọng, góp phần làm sáng rõ hơn quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trong giai đoạn 2026-2030.
2. Những điểm mới của Chương trình MTQG 417
(i) Chương trình MTQG 417 là sự đổi mới về phương thức quản trị phát triển. Thay vì điều hành riêng lẻ từng chương trình với nhiều đầu mối quản lý, Chương trình MTQG 417 được xây dựng theo hướng thống nhất về mục tiêu, cơ chế điều hành và phương thức phân bổ nguồn lực, đồng thời vẫn bảo đảm các chính sách đặc thù dành cho vùng đồng bào DTTS&MN.
Chương trình MTQG 417 được kết cấu thành 02 hợp phần. Hợp phần thứ nhất gồm 10 nội dung thành phần và 52 nội dung cụ thể, thực hiện trên phạm vi toàn quốc; chỉ thực hiện tại vùng đồng bào DTTS&MN đối với những nội dung Hợp phần thứ hai không quy định, nhằm đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu của Chương trình; bao gồm các nội dung chung: hoàn thiện quy hoạch; phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; phát triển sản xuất, kinh tế nông thôn và tạo sinh kế; nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa, an sinh xã hội; đào tạo nguồn nhân lực; cải thiện dịch vụ hành chính công, trợ giúp pháp lý và bình đẳng giới; bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh, trật tự truyền thông, kiểm tra, giám sát và xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý. Tập trung ưu tiên hỗ trợ, đầu tư cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS&MN, an toàn khu, biên giới và hải đảo.
Hợp phần thứ hai gồm 05 nội dung thành phần và 23 nội dung cụ thể, thực hiện trên phạm vi vùng đồng bào DTTS&MN; chỉ thực hiện ngoài vùng đồng bào DTTS&MN đối với những nội dung mang tính đặc thù của ngành công tác dân tộc và không quy định trong Hợp phần thứ nhất; tập trung vào các chính sách đặc thù dành cho vùng đồng bào DTTS&MN, ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, phát triển sinh kế, bảo tồn văn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Cách thiết kế này vừa bảo đảm tính thống nhất trong quản lý, vừa duy trì nguyên tắc ưu tiên đối với các địa bàn đặc biệt khó khăn.
(ii) Đổi mới cơ chế quản lý theo hướng phân cấp, phân quyền, tập trung nguồn lực và quản lý theo kết quả. Nếu trước đây Trung ương vừa xây dựng chính sách vừa tham gia sâu vào quá trình tổ chức thực hiện thì trong giai đoạn mới, vai trò của Trung ương được chuyển sang tập trung xây dựng thể chế, ban hành hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả. Cấp tỉnh quyết định phương án thực hiện trên địa bàn; cấp xã trực tiếp rà soát nhu cầu, xác định đối tượng và tổ chức thực hiện. Địa phương được trao quyền chủ động hơn trong cụ thể hóa tiêu chí, xây dựng kế hoạch, xác định địa bàn, lựa chọn nhiệm vụ, phân bổ vốn và tổ chức thực hiện. Quy trình được rút ngắn, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tinh thần “Địa phương quyết - Địa phương làm - Địa phương chịu trách nhiệm”. Việc phân cấp đồng thời gắn với nguồn lực, năng lực thực hiện và trách nhiệm của người đứng đầu.
(iii) Các quy định mới đã xử lý cơ bản những hạn chế về giao thoa chính sách, phân tán đầu mối, nhiều văn bản hướng dẫn, phân bổ nguồn lực dàn trải và đánh giá còn nặng về đầu vào của giai đoạn trước; đồng thời tạo khuôn khổ để địa phương chủ động tổ chức thực hiện. Cụ thể, bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 được tổ chức lại thành 10 nhóm tiêu chí, áp dụng phù hợp với từng nhóm xã và tăng phân cấp cho Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh cụ thể hóa một số chỉ tiêu theo điều kiện thực tế. Trọng tâm chuyển từ mở rộng các mức “nâng cao”, “kiểu mẫu” sang xây dựng xã nông thôn mới và xã nông thôn mới hiện đại; chú trọng hơn đến phát triển kinh tế nông thôn, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chất lượng dịch vụ xã hội, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, môi trường, cảnh quan và hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở. Quy định về chuẩn nghèo được điều chỉnh theo hướng phản ánh đầy đủ hơn mức sống tối thiểu và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản...
(iv) Chuyển từ điều hành riêng theo từng Chương trình sang quản lý tổng hợp trong một kế hoạch chung. Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện vai trò cơ quan chủ Chương trình, điều phối chung; các bộ, cơ quan trung ương chịu trách nhiệm đối với nội dung được phân công; địa phương tổ chức thực hiện trên cơ sở mục tiêu, phạm vi, đối tượng và tổng mức vốn được giao. Cơ chế này làm giảm đầu mối, tăng phối hợp và xác định rõ hơn trách nhiệm của từng cơ quan.
(v) Giai đoạn 2026-2030, tách rõ việc xác định 20 địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn miền núi và phân định trình độ phát triển; áp dụng thống nhất từ cấp thôn, xã đến tỉnh. Tiêu chí được xác định theo hướng đa chiều, kết hợp tỷ lệ và số lượng người dân tộc thiểu số, điều kiện địa hình, thu nhập, nghèo đa chiều, hạ tầng và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Qua đó hạn chế bỏ sót những địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số nhưng chưa đạt tỷ lệ theo quy định. Danh sách địa bàn được sử dụng ổn định trong cả giai đoạn, tạo thuận lợi cho xây dựng kế hoạch và bố trí nguồn lực trung hạn.
(vi) Ngân sách trung ương được phân bổ theo mức độ khó khăn, ưu tiên xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS&MN, an toàn khu, biên giới và hải đảo. Địa phương được chủ động lựa chọn nhiệm vụ, lồng ghép ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, tín dụng chính sách và các nguồn vốn hợp pháp khác trong một kế hoạch chung; bảo đảm không trùng lặp đối tượng, nội dung hỗ trợ và nhiệm vụ chi, không huy động quá sức dân.
(vii) Cuối cùng, hiệu quả Chương trình được đánh giá gắn với kết quả đầu ra, mức độ cải thiện thu nhập, chất lượng sống, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu và tính bền vững sau đầu tư. Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và chế độ báo cáo được xây dựng theo hướng thống nhất, tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình; gắn tiến độ thực hiện, giải ngân, hiệu quả sử dụng nguồn lực và phòng, chống thất thoát, lãng phí với trách nhiệm của người đứng đầu.
Các điểm mới của Chương trình MTQG 417 đã khắc phục những hạn chế mang tính hệ thống của giai đoạn trước. Tuy nhiên, kết quả khắc phục trong thực tế còn phụ thuộc vào việc cụ thể hóa đầy đủ các quy định, sự phối hợp của các bộ, cơ quan trung ương, tính chủ động của địa phương, năng lực tổ chức thực hiện ở cấp xã và hiệu quả kiểm tra, giám sát trong suốt quá trình triển khai.
3. Một số kết quả bước đầu triển khai Chương trình MTQG 417
Năm 2026 là năm đầu triển khai Chương trình MTQG 417 trong bối cảnh có nhiều thay đổi về thể chế và tổ chức bộ máy. Sau nửa năm, kết quả bước đầu cho thấy nền tảng pháp lý, cơ chế điều hành và tổ chức thực hiện đã cơ bản được hình thành, tạo điều kiện để Chương trình chuyển từ giai đoạn chuẩn bị sang triển khai đồng bộ trên cả nước.
(i) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn thực hiện đã hoàn thiện tương đối đồng bộ. Đến hết tháng 6, các bộ, ngành Trung ương đã tham mưu hoặc ban hành 54 văn bản quy định và hướng dẫn thực hiện Chương trình, gồm: 01 Nghị quyết của Quốc hội; 02 Nghị định và 01 Nghị quyết của Chính phủ; 07 Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; 02 Quyết định của Ban Chỉ đạo Trung ương, 09 Thông tư và 32 văn bản hướng dẫn của các bộ, cơ quan trung ương (trong đó có 16/54 văn bản là quy phạm pháp luật, chiếm 30%). Số lượng văn bản giảm khoảng 79% so với giai đoạn trước và hoàn thành sớm hơn một tháng so với tiến độ Chính phủ giao, tạo khung pháp lý thống nhất để tổ chức thực hiện Chương trình trên phạm vi cả nước.
Để khắc phục tình trạng nhiều văn bản, khó tra cứu của giai đoạn trước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Sổ tay hướng dẫn thực hiện Chương trình, góp phần thống nhất cách hiểu, cách làm giữa các bộ, ngành và địa phương.
Ở địa phương, trên cơ sở văn bản của Trung ương, các tỉnh, thành phố đã từng bước cụ thể hóa Chương trình theo thẩm quyền. Đến hết tháng 6, có 31/34 tỉnh, thành phố hoàn thành phân loại nhóm xã; 17/34 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình; 09/34 tỉnh, thành phố ban hành nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách và 04/34 địa phương ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới. Một số địa phương đã chủ động xây dựng đề án, chính sách phù hợp với lợi thế và nhu cầu thực tế, như phát triển sản phẩm OCOP, kinh tế tuần hoàn, du lịch nông thôn; hỗ trợ đất ở, đất sản xuất và đất sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào dân tộc thiểu số.
(ii) Kiện toàn bộ máy chỉ đạo và tăng cường năng lực điều phối. Ở Trung ương, Ban Chỉ đạo thực hiện các Chương trình MTQG được thành lập và kiện toàn theo hướng tinh gọn, thống nhất đầu mối điều phối. Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao làm cơ quan thường trực và sử dụng Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình MTQG làm cơ quan giúp việc. Mô hình này góp phần khắc phục tình trạng phân tán đầu mối quản lý giữa các chương trình như giai đoạn trước, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành trong chỉ đạo, điều hành.
Tại địa phương, đã có 23/34 tỉnh, thành phố hoàn thành việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; các địa phương còn lại tiếp tục thực hiện việc kiện toàn theo quy định mới của Chính phủ. Nhiều địa phương đã chủ động xây dựng quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ và tổ chức bộ máy giúp việc, tạo điều kiện cho việc triển khai Chương trình thống nhất từ tỉnh đến cơ sở.
Việc sớm kiện toàn hệ thống điều hành cho thấy quyết tâm đổi mới phương thức quản trị Chương trình theo hướng rõ đầu mối, rõ trách nhiệm và tăng cường tính phối hợp giữa các cấp, các ngành.
(iii) Chủ động chuẩn bị nguồn lực và tổ chức thực hiện tại địa phương. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Tài chính trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ phương án phân bổ 70.000 tỷ đồng vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; đề xuất phân bổ 9.000 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình năm 2026. Đây là tiền đề quan trọng để các địa phương xây dựng kế hoạch đầu tư và tổ chức triển khai các dự án ngay từ năm đầu của giai đoạn.
Ở địa phương, phần lớn các tỉnh, thành phố đã hoàn thành việc phân loại nhóm xã; nhiều địa phương đã ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình, quy định nguyên tắc phân bổ ngân sách và từng bước xây dựng Bộ tiêu chí nông thôn mới phù hợp với điều kiện thực tế. Một số địa phương còn chủ động xây dựng các đề án phát triển sản phẩm OCOP, kinh tế tuần hoàn, du lịch nông thôn và các chính sách hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả này cho thấy cơ chế phân cấp, phân quyền bước đầu đã phát huy hiệu quả, tạo điều kiện để địa phương chủ động lựa chọn nhiệm vụ phù hợp với điều kiện phát triển và nhu cầu thực tiễn.
4. Một số định hướng nhiệm vụ, giải pháp triển khai hiệu quả Chương trình
Các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương cần xác định rõ nhiệm vụ ưu tiên, nguồn lực, tiến độ và trách nhiệm thực hiện. Thường xuyên rà soát, đánh giá kết quả, kịp thời điều chỉnh các nhiệm vụ không còn phù hợp hoặc không bảo đảm khả năng thực hiện; phấn đấu hoàn thành đầy đủ các mục tiêu, chỉ tiêu được cấp có thẩm quyền giao.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Việc phân cấp phải gắn với nguồn lực, năng lực tổ chức thực hiện, cơ chế kiểm soát và trách nhiệm của người đứng đầu; bảo đảm việc chuyển giao nhiệm vụ, hồ sơ và dữ liệu giữa các cấp được liên tục, không để phát sinh khoảng trống trong quản lý.
Tập trung, lồng ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Ưu tiên nguồn lực cho xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS&MN, an toàn khu, biên giới, hải đảo và địa bàn còn thiếu hụt các dịch vụ thiết yếu; lựa chọn nhiệm vụ trên cơ sở nhu cầu thực tế, mức độ sẵn sàng và khả năng duy trì sau đầu tư. Không bố trí vốn dàn trải, không trùng lặp đối tượng, nội dung hỗ trợ và nhiệm vụ chi, không huy động quá sức dân.
Tạo chuyển biến thực chất về phát triển kinh tế nông thôn, giảm nghèo và nâng cao đời sống người dân. Ưu tiên giải quyết những khó khăn căn bản của vùng đồng bào DTTS&MN, trong đó, tập trung hoàn thiện hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ giải quyết đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa, đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực. Việc hỗ trợ phải đúng địa bàn, đúng đối tượng, phù hợp với phong tục, tập quán và điều kiện thực tế; gắn phát triển kinh tế với bảo tồn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường, củng cố quốc phòng và an ninh.
Tổ chức bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp xã và cán bộ trực tiếp thực hiện Chương trình tại địa bàn khó khăn; tập trung vào kỹ năng lập kế hoạch, quản lý đầu tư, tài chính - ngân sách, xác định đối tượng, theo dõi, báo cáo và chuyển đổi số. Đổi mới nội dung, hình thức truyền thông phù hợp với từng vùng, từng dân tộc. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, già làng, trưởng bản và người có uy tín trong tuyên truyền, vận động cộng đồng.
Hoàn thiện hệ thống thông tin, dữ liệu và đổi mới công tác giám sát, đánh giá. Lấy kết quả thực tế tại cơ sở, mức độ cải thiện thu nhập, chất lượng sống và tính bền vững sau đầu tư làm căn cứ đánh giá hiệu quả Chương trình.
Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý dứt điểm các nhiệm vụ chậm; gắn tiến độ thực hiện, giải ngân, hiệu quả sử dụng nguồn lực và phòng, chống thất thoát, lãng phí với trách nhiệm của người đứng đầu.
5. Kết luận
Chương trình MTQG 417 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị phát triển ở Việt Nam, thể hiện qua việc tích hợp ba Chương trình MTQG riêng lẻ của giai đoạn 2021-2025 vào trong một khuôn khổ quản lý thống nhất, tăng cường phân cấp, phân quyền và quản lý theo kết quả. Việc tích hợp bước đầu tạo được đầu mối chỉ đạo thống nhất, giảm phân tán trong quản lý, hạn chế trùng lặp về địa bàn, đối tượng và nội dung hỗ trợ; đồng thời mở rộng dư địa để địa phương chủ động lồng ghép, sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Trong dài hạn, hiệu quả của Chương trình không chỉ được đo bằng số lượng công trình được đầu tư, tỷ lệ giải ngân hay các chỉ tiêu định lượng đạt được, mà quan trọng hơn là khả năng tạo ra chuyển biến bền vững về chất lượng sống của người dân, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, bảo đảm an sinh xã hội, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc và xây dựng nền quản trị phát triển hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Đây cũng là cơ sở quan trọng để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Báo cáo nghiên cứu khả thi Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 2035, giai đoạn I từ 2026-2030.
2. Văn phòng Trung ương Đảng (2026), Thông báo số 100 TB/VPTW, ngày 19/6/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp.