Bánh gio Bắc Kạn - Sản phẩm OCOP do người Tày, Nùng ở HTX Nông Thượng, tỉnh Thái Nguyên sản xuất được người tiêu dùng ưa chuộngTừ sản vật địa phương đến hàng hóa có giá trị
Sau nhiều năm triển khai, Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã chứng minh đây không đơn thuần là chương trình xây dựng thương hiệu cho đặc sản địa phương mà đang trở thành một phương thức tổ chức lại sản xuất và phát triển kinh tế nông thôn.
Theo ghi nhận của Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) khi tổng kết Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, đến hết tháng 6/2025, cả nước có 16.855 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, tăng 12.368 sản phẩm so với năm 2020; với 9.822 chủ thể OCOP. Đặc biệt, 40% chủ thể OCOP là phụ nữ và 17,1% là người dân tộc thiểu số.
Con số 17,1% chủ thể OCOP là người dân tộc thiểu số rất đáng chú ý. Bởi vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trước đây vốn được nhìn nhận là khu vực còn nhiều khó khăn về hạ tầng, thị trường, nguồn nhân lực, khả năng tiếp cận các dịch vụ phát triển. Song chính nơi đây lại sở hữu nguồn tài nguyên rất lớn về nông sản, dược liệu, bản sắc văn hóa độc đáo của cộng đồng các dân tộc thiểu số được tích lũy qua nhiều thế hệ. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để biến nguồn tài nguyên vùng đang sở hữu thành hàng hóa có giá trị cao hơn. Phát triển sản phẩm OCOP chính là một trong những công cụ để giải bài toán đó.
Chè cổ thụ trên núi cao là nguồn nguyên liệu quý để sản xuất các dòng trà đạt tiêu chuẩn OCOP mang lại thu nhập cao cho người dânCâu chuyện của Hợp tác xã chế biến chè Phìn Hồ là một ví dụ điển hình. Được thành lập bởi một số hộ đồng bào người Dao đỏ tại xã Thông Nguyên (tỉnh Hà Giang cũ, nay là tỉnh Tuyên Quang), hợp tác xã đã khai thác giá trị của những cây chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi để xây dựng nên thương hiệu Fìn Hò Trà nổi tiếng. Hiện nay, Hợp tác xã liên kết với hàng trăm hộ trồng chè và thu mua nguyên liệu cho bà con với giá thu mua chè tươi dao động từ 60.000 - 300.000 đồng/kg. Trà Phìn Hồ đã mang lại thu nhập khoảng 50 triệu đồng/ha cho người trồng và 5.000.0000 - 10.000.000đ/tháng cho lao động địa phương.
Tại Sì Lở Lầu, tỉnh Lai Châu, Hợp tác xã Biên Cương cũng đã đưa chè Shan tuyết của đồng bào Dao từ chỗ chủ yếu bán qua thương lái sang sản xuất có nhãn hiệu, bao bì và tiêu chuẩn. Các dòng trà đạt OCOP 3 sao của hợp tác xã có giá bán từ 2-3 triệu đồng/kg, đem về nguồn thu đáng kể cho hàng chục hộ dân.
Một vài dẫn chứng riêng trong lĩnh vực sản xuất chè đã cho thấy khả năng biến tài nguyên nông nghiệp thành chuỗi giá trị cho người dân địa phương tham gia và hưởng lợi. Thực tế cho thấy, sản phẩm OCOP có khả năng tạo ra giá trị kinh tế rõ rệt. Theo số liệu được Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương công bố, hơn 60,7% chủ thể có sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên ghi nhận doanh thu tăng bình quân 17,6%/năm; giá bán sản phẩm sau khi được công nhận OCOP tăng bình quân 12,2%.
Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, dư địa để phát triển sản phẩm OCOP còn rất lớn, bởi nhiều sản phẩm hiện mới dừng ở dạng nguyên liệu thô hoặc sơ chế. Chè, quế, hồi, dược liệu, mật ong, cà phê, mắc ca, các loại gia vị, nông sản đặc hữu, thổ cẩm, sản phẩm thủ công truyền thống… nếu chỉ bán nguyên liệu thì giá trị giữ lại cho người sản xuất rất thấp. Tuy nhiên khi được chế biến sâu, tiêu chuẩn hóa, truy xuất nguồn gốc, kể được câu chuyện văn hóa và gắn với du lịch thì có thể tạo ra nhiều tầng giá trị.
Những sản phẩm như Phìn Hồ Trà đang đóng vai trò như những “đại sứ” truyền tải câu chuyện và giá trị văn hóa của vùng, miềnChẳng hạn như sản phẩm trà Phìn Hồ không chỉ là thứ đồ uống mà còn mang theo câu chuyện về những cây chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi sống trên những đỉnh núi cao từ 1.000 - 2.000m, câu chuyện về kỹ năng sản xuất và đời sống văn hóa của người Dao đỏ. Chương trình OCOP quốc gia đánh giá những sản phẩm như Phìn Hồ Trà đang đóng vai trò như những “đại sứ” truyền tải câu chuyện và giá trị văn hóa của vùng, miền. Đây chính là lợi thế đặc biệt của những sản phẩm OCOP có xuất xứ từ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miến núi, đó là giá trị kinh tế có thể được tạo ra đồng thời với giá trị văn hóa và sinh thái.
Biến OCOP thành động lực giảm nghèo và phát triển vùng
Định hướng này được thể hiện rõ nét trong Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ 2026-2030.
Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030, đưa thu nhập bình quân của người dân nông thôn lên gấp 2,5-3 lần năm 2020; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng một nửa mức bình quân chung của cả nước; giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10% và phấn đấu cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Để đạt tới những mục tiêu đó, phát triển sản phẩm OCOP cần được đặt trong tổng thể kế hoạch cơ cấu lại kinh tế nông thôn. Chương trình xác định phát triển sản phẩm OCOP theo hướng chất lượng, đặc trưng, đa giá trị, thân thiện môi trường gắn với đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong chế biến, khai thác tiềm năng, lợi thế và giá trị văn hóa địa phương; xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường và thúc đẩy sản phẩm OCOP xanh; tập trung, ưu tiên hỗ trợ cho các chủ thể là hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp nhỏ và vừa, trang trại và hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh trên địa bàn các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo; khuyến khích chủ thể là phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật tham gia sản xuất sản phẩm OCOP.
Sản xuất các sản phẩm OCOP là một phương thức phát triển dựa trên nội lực ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Trong ảnh: Từ khi mật thốt nốt hữu cơ Palmania của Công ty cổ phần Palmania do chị Chau Ngọc Dịu, dân tộc Khmer làm Giám đốc được chứng nhận OCOP, việc tiêu thụ trở nên thuận lợi hơn)Cùng với đó là hàng loạt giải pháp từ xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ, ứng dụng khoa học công nghệ, chế biến sâu, hoàn thiện bao bì, truy xuất nguồn gốc đến xây dựng thương hiệu, thương mại điện tử, chuyển đổi số và kết nối sản phẩm OCOP với du lịch nông thôn.
Đây là cách tiếp cận đúng hướng, bởi giảm nghèo bền vững không thể chỉ dựa vào sự hỗ trợ trực tiếp cho từng hộ dân. Muốn người dân thoát nghèo và không tái nghèo phải tạo ra năng lực sản xuất, sinh kế và thị trường để người dân có việc làm, thu nhập trên quê hương mình. Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đó còn là một phương thức phát triển dựa trên nội lực. Trong đó tài nguyên địa phương là nền tảng, người dân là chủ thể trực tiếp thực hiện, khoa học công nghệ và tổ chức sản xuất là công cụ; thị trường và thu nhập là thước đo để đánh giá hiệu quả.
Khi những búp chè tươi trở thành sản phẩm trà OCOP 5 sao; khi một bài thuốc, món ăn, sản phẩm thủ công được chuẩn hóa thành hàng hóa có thương hiệu; khi đồng bào dân tộc thiểu số từ người bán nguyên liệu thô trở thành thành viên của hợp tác xã, chủ thể sản xuất và hưởng lợi trong chuỗi giá trị thì OCOP đã vượt ra ngoài ý nghĩa của một sản phẩm. Đó chính là quá trình biến lợi thế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thành nguồn lực phát triển, biến bản sắc thành giá trị kinh tế và quan trọng hơn, tạo điều kiện để đồng bào vươn lên bằng chính tri thức, tài nguyên và sức lao động của mình.