Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Phản bác luận điệu xuyên tạc một số nội dung trong Điều 14 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026

Anh Vũ - 05:19, 02/09/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 (Luật số 07/2026/QH16) đánh dấu bước tiến lớn trong việc hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với kỷ nguyên số. Trong đó, Điều 14 quy định về người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng đã làm sâu sắc hơn vai trò chủ thể của “cộng đồng dân cư”. Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã đưa ra nhiều luận điệu bóp méo quy định này nhằm vu cáo Nhà nước hành chính hóa hoạt động tâm linh, tước đoạt quyền tự chủ của người dân. Bài viết tập trung phân tích nội dung pháp lý của Điều 14, nhận diện thủ đoạn xuyên tạc và đề xuất giải pháp đấu tranh phản bác.

Các cơ sở tín ngưỡng như đình, đền, miếu, phủ... là không gian tâm linh, biểu tượng gắn kết cộng đồng làng xã lâu đời (Trong ảnh: Lễ hội đền Bà Triệu năm 2025 tại Khu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt đền Bà Triệu, tỉnh Thanh Hóa)
Các cơ sở tín ngưỡng như đình, đền, miếu, phủ... là không gian tâm linh, biểu tượng gắn kết cộng đồng làng xã lâu đời (Trong ảnh: Lễ hội đền Bà Triệu năm 2025 tại Khu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt đền Bà Triệu, tỉnh Thanh Hóa)

Từ khóa: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026; Điều 14; Cộng đồng dân cư; Cơ sở tín ngưỡng; Luận điệu xuyên tạc; Đấu tranh phản bác.

1. Đặt vấn đề

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân, cấu thành nên nền văn hóa truyền thống Việt Nam. Các cơ sở tín ngưỡng như đình, đền, miếu, phủ... là không gian tâm linh, biểu tượng gắn kết cộng đồng làng xã lâu đời. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chính sách tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này. Năm 2026, Quốc hội Khóa XVI ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo mới nhằm đáp ứng đòi hỏi từ thực tiễn, đẩy mạnh phân cấp, đơn giản hóa thủ tục và xác lập rõ cơ chế pháp lý cho hoạt động tự quản của người dân. Trong đó, Điều 14 quy định về Người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Lợi dụng việc chuẩn hóa các quy định mới, các lực lượng thiếu thiện chí đã cắt xén, bóp méo bản chất của Điều 14 nhằm rêu rao rằng chính quyền can thiệp thô bạo vào nội bộ các cơ sở thờ tự dân gian. Việc nhận diện và bẻ gãy các luận điệu này có ý nghĩa cấp bách để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật và giữ vững ổn định xã hội.

2. Nội dung cốt lõi của quy định về cộng đồng dân cư trong Điều 14 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026

Để có cơ sở khoa học và pháp lý vững chắc nhằm phản bác các luận điểm sai trái, trước hết cần phải hiểu đúng, đủ tinh thần và nội dung văn bản của Điều 14 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026.

So với Luật năm 2016, Điều 14 của Luật năm 2026 đã được bổ sung, sửa đổi một cách toàn diện, quy định rõ ràng mạch lạc quy trình dân chủ cơ sở và vai trò quyết định mang tính tự quản của cộng đồng dân cư đối với cơ sở tín ngưỡng của mình. Cụ thể, cấu trúc pháp lý của Điều 14 bao gồm các nội dung cốt lõi sau:

Thứ nhất, khẳng định quyền tự quản và phát huy dân chủ cơ sở của cộng đồng dân cư đối với quy chế cơ sở

Khoản 1 Điều 14 xác định: Cơ sở tín ngưỡng phải có người đại diện hoặc ban quản lý để chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động diễn ra tại cơ sở. Điểm đặc biệt nằm ở chỗ, thời hạn nhiệm kỳ, trách nhiệm, quyền hạn của các vị trí này không do cơ quan nhà nước áp đặt mà do chính “cộng đồng dân cư quy định trong quy chế” hoạt động của cơ sở. Điều này thể hiện sự tôn trọng tuyệt đối của Nhà nước đối với hương ước, quy ước và tập quán tốt đẹp lâu đời của từng địa phương trong việc quản lý tài sản chung và thờ phụng các bậc tiền nhân, Thành hoàng làng.

Thứ hai, chuẩn hóa tiêu chuẩn nhân sự vì lợi ích chung của cộng đồng

Khoản 2 Điều 14 đưa ra các tiêu chí cụ thể đối với người đại diện hoặc thành viên ban quản lý, bao gồm: là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam; có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có uy tín trong cộng đồng dân cư; không trong thời gian chấp hành các biện pháp xử lý hành chính hoặc hình sự, đặc biệt là không bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Quy định này bảo vệ chính cơ sở tín ngưỡng khỏi nguy cơ bị thao túng bởi các phần tử thiếu thiện chí, tội phạm hoặc những đối tượng lợi dụng thần quyền giáo lý để trục lợi cá nhân, phá hoại trật tự trị an của thôn xóm.

Thứ ba, quy trình hóa tính dân chủ thông qua cơ chế bầu cử và công nhận

Khoản 3 và Khoản 4 của Điều 14 phân định rõ thẩm quyền tổ chức và công nhận kết quả dựa trên phạm vi của cơ sở tín ngưỡng.

Đối với cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn một xã, Ủy ban Nhân dân cấp xã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức để cộng đồng dân cư bầu, cử người đại diện. Sau đó, trong thời hạn 05 ngày làm việc, Ủy ban Nhân dân cấp xã ban hành quyết định công nhận.

Đối với cơ sở tín ngưỡng có tầm ảnh hưởng lớn, nằm trên địa bàn nhiều xã, phường, đặc khu trong một tỉnh, thẩm quyền này thuộc về Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh.

Quy định này thể hiện sự chuyển dịch mạnh mẽ theo tinh thần cải cách hành chính năm 2026: bãi bỏ hoàn toàn thẩm quyền trung gian của cấp huyện nhằm vận hành mô hình quản lý tinh gọn, đẩy mạnh phân cấp thẳng xuống cơ sở (cấp xã) để sâu sát dân hơn, đồng thời rút ngắn tối đa thời gian xử lý hồ sơ xuống chỉ còn 05 ngày làm việc.

Trọng tâm pháp lý đó là bản chất của quyết định công nhận từ chính quyền không phải là sự ban phát quyền lực hay can thiệp vào quyền tự do tín ngưỡng, mà là thủ tục xác lập tư cách pháp lý cho người đại diện. Nhờ có sự công nhận này, người đại diện hoặc ban quản lý mới có đủ tư cách hợp pháp để thay mặt cộng đồng thực hiện các giao dịch dân sự, bảo vệ tài sản, đất đai của cơ sở tín ngưỡng trước pháp luật và đứng ra tổ chức các lễ hội truyền thống một cách an toàn, đúng quy định.

3. Nhận diện các luận điệu xuyên tạc về quy định cộng đồng dân cư trong Điều 14

Dựa trên việc theo dõi và thu thập thông tin từ các trang mạng xã hội xuyên biên giới, các báo cáo thường niên về tự do tôn giáo mang tính định kiến của một số tổ chức quốc tế, có thể phân loại và nhận diện các luận điệu xuyên tạc chủ yếu tập trung vào 3 nhóm luận điểm sai trái sau:

Luận điệu thứ nhất vu cáo Nhà nước hành chính hóa và quốc doanh hóa các cơ sở tín ngưỡng dân gian

Các đối tượng phản động đưa ra luận điểm rằng việc Luật năm 2026 bắt buộc các cơ sở tín ngưỡng phải bầu người đại diện và được Ủy ban Nhân dân cấp xã hoặc cấp tỉnh ra quyết định công nhận trong vòng 05 ngày là một hình thức biến cơ sở tâm linh thành cơ quan hành chính kéo dài. Sự suy diễn hoàn toàn thoát ly khỏi câu chữ và tinh thần của văn bản pháp lý rằng: Tín ngưỡng là tự nguyện, thuộc về thế giới tâm linh của Nhân dân, tại sao người quản lý đền, miếu mạo lại phải cần một quyết định hành chính của chính quyền phê chuẩn? Như vậy là Nhà nước đang cố tình cài cắm người của mình vào quản lý, biến các ban quản lý tự quản thành các ban quản lý quốc doanh nhằm kiểm soát nguồn tiền công đức và định hướng hoạt động thờ cúng theo ý chí chính trị.

Đây là một luận điệu cực kỳ nguy hiểm, cố tình đánh tráo khái niệm giữa quản lý nhà nước về mặt trật tự pháp luật với can thiệp vào nội bộ tâm linh. Trên thực tế, bất kỳ một quốc gia văn minh nào trên thế giới cũng đều yêu cầu các tổ chức, cơ sở có hoạt động tập trung đông người và sở hữu tài sản chung phải có người đại diện hợp pháp trước pháp luật. Nếu không có sự công nhận về mặt hành chính, khi xảy ra tranh chấp đất đai, mất mát cổ vật hay hỏa hoạn tại cơ sở tín ngưỡng, ai sẽ là người đứng ra làm việc với các cơ quan chức năng, tòa án để bảo vệ quyền lợi cho cộng đồng? Việc quy định thời hạn 05 ngày làm việc để chính quyền ra quyết định công nhận thực chất là một bước đột phá về cải cách hành chính, buộc cơ quan nhà nước phải giải quyết nhanh chóng, tránh tình trạng ngâm hồ sơ, gây khó khăn cho người dân, chứ không phải là tạo thêm rào cản kỹ thuật.

Luận điệu thứ hai, Nhà nước tước đoạt quyền tự chủ của cộng đồng dân cư

Nhóm luận điệu này cố tình diễn dịch sai lệch các điều khoản tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 14 về việc Ủy ban Nhân dân cấp xã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức để cộng đồng dân cư nơi có cơ sở tín ngưỡng bầu, cử... Lợi dụng cụm từ phối hợp tổ chức, các phần tử thiếu thiện chí rêu rao rằng chính quyền địa phương đang nắm quyền sinh sát, đứng ra áp đặt nhân sự theo ý muốn chủ quan của họ chứ không có cái gọi là tự do bầu cử của người dân. Họ xuyên tạc rằng Mặt trận Tổ quốc và Ủy ban Nhân dân cấp xã sẽ sử dụng quyền lực để sàng lọc, đấu thầu hoặc loại bỏ những người có tiếng nói độc lập, những vị bô lão uy tín nhưng không vừa mắt chính quyền để thay thế bằng các nhân sự dễ bảo.

Luận điệu này hoàn toàn phớt lờ thực tế vận hành của cơ chế dân chủ cơ sở tại Việt Nam. Vai trò của Ủy ban Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc ở đây là vai trò hỗ trợ và bảo đảm: hỗ trợ về mặt pháp lý, cung cấp không gian, bảo đảm an ninh trật tự và chứng kiến tính khách quan của cuộc bầu cử, hoàn toàn không có quyền can thiệp vào ý chí bỏ phiếu hay lựa chọn của cộng đồng dân cư. Quy chế hoạt động, tiêu chuẩn lựa chọn cụ thể vẫn dựa trên quy ước của chính cộng đồng đó xây dựng. Sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc - cơ quan đại diện cho khối đại đoàn kết toàn dân - chính là cơ chế bảo đảm tính dân chủ, công bằng, bảo đảm cho mọi thành viên trong cộng đồng dân cư đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau, ngăn ngừa tình trạng một nhóm người, một dòng họ lớn có hành vi thao túng, độc chiếm cơ sở tín ngưỡng chung của làng xã làm của riêng.

Luận điệu thứ ba, lợi dụng sự mập mờ về khái niệm cộng đồng dân cư để kích động xung đột sắc tộc, tôn giáo và tranh chấp tài sản

Điều 14 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đặt trọng tâm vào chủ thể cộng đồng dân cư nơi có cơ sở tín ngưỡng. Lợi dụng điểm này, một số tổ chức cực đoan ở nước ngoài, đặc biệt là các thế lực đang tìm cách phục dựng cái gọi là Tin Lành Đêga ở Tây Nguyên hay Phật giáo Khmer Krom ở Nam Bộ, đã đưa ra các diễn dịch vô cùng xuyên tạc. Họ cho rằng khái niệm cộng đồng dân cư trong luật là một công cụ để Nhà nước thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa. Họ kích động người dân tộc thiểu số tại chỗ bằng luận điệu: Chính quyền dùng quy định này để cho phép người Kinh từ nơi khác đến định cư cũng được tham gia vào cộng đồng dân cư, từ đó có quyền bầu cử, quản lý và chiếm đoạt các khu đền tháp, nhà rông, khu rừng thiêng truyền thống của người địa phương.

Đây là sự suy diễn vô căn cứ, cố tình gắn ghép một quy định thuần túy về mặt dân sự, văn hóa thành một vấn đề xung đột sắc tộc. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 quy định rõ khái niệm cộng đồng dân cư gắn liền với không gian sinh tồn và lịch sử hình thành của chính cơ sở tín ngưỡng đó. Đối với các cơ sở gắn liền với đặc trưng văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số, Nhà nước luôn tôn trọng các luật tục, vai trò của các già làng, trưởng bản, các vị chức sắc có uy tín truyền thống. Không một quy định nào trong Điều 14 cho phép việc cưỡng đoạt hay pha loãng bản sắc văn hóa địa phương. Ngược lại, việc pháp lý hóa vai trò của cộng đồng dân cư giúp đồng bào dân tộc thiểu số có một công cụ luật pháp vững chắc để ngăn chặn các doanh nghiệp tư nhân hoặc các cá nhân có ý đồ trục lợi xâm phạm, thương mại hóa tâm linh đối với không gian di sản thiêng liêng của họ.

4. Bản chất và âm mưu đằng sau các luận điệu xuyên tạc

Để đấu tranh một cách hiệu quả, chúng ta cần phải nhìn thấu bản chất và những âm mưu thâm độc đằng sau các chiến dịch truyền thông bôi nhọ quy định của Điều 14 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026. Các luận điệu này không xuất phát từ tinh thần xây dựng hay bảo vệ quyền lợi của người dân, mà nằm trong một chiến lược chính trị tổng thể nhằm các mục tiêu sau:

Một là, hạ uy tín ngoại giao của Việt Nam trên trường quốc tế. Bằng việc liên tục vu cáo Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo, bóp nghẹt quyền tự chủ của cộng đồng thông qua các điều luật như Điều 14, các tổ chức phản động cố tình cung cấp thông tin sai lệch, một chiều cho các cơ quan ngoại giao nước ngoài và các tổ chức nhân quyền quốc tế. Mục đích là nhằm đưa Việt Nam vào các danh sách giám sát đặc biệt (như CPC), từ đó làm cái cớ để gây sức ép kinh tế, chính trị trong các tiến trình đàm phán quốc tế của đất nước vào năm 2026 và các năm tiếp theo.

Hai là, ly khai hóa các cơ sở tâm linh khỏi sự quản lý của Nhà nước để tạo vùng trắng pháp luật. Ý đồ sâu xa của họ khi đòi hỏi các cơ sở tín ngưỡng phải hoàn toàn độc lập, tự trị, không cần sự công nhận hành chính từ chính quyền là nhằm biến các nơi này thành những khu vực nằm ngoài tầm kiểm soát của luật pháp. Một khi các cơ sở tín ngưỡng trở thành vùng trắng, các thế lực thù địch sẽ dễ dàng biến nơi đây thành tụ điểm tụ tập đông người trái phép, tàng trữ các ấn phẩm đồi trụy, phản động, hoặc là nơi trú ẩn, hoạt động cho các phần tử khủng bố, cực đoan kích động bạo loạn dưới danh nghĩa hoạt động tâm linh lành mạnh.

Ba là, kích động tâm lý bất mãn, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bằng các thủ đoạn cắt xén câu chữ, lấy hiện tượng đơn lẻ ở một vài địa phương xảy ra tranh chấp quản lý tài sản đền miếu rồi quy kết thành bản chất hệ thống của luật pháp, các đối tượng muốn gieo rắc sự hoài nghi, tâm lý bất an và đối đầu giữa quần chúng Nhân dân với chính quyền cơ sở. Điều này phá hoại nghiêm trọng mối quan hệ máu thịt giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước, trực tiếp phá hoại công cuộc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.

5. Giải pháp đấu tranh phản bác về luận điệu xuyên tạc và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

Để bảo vệ sự toàn vẹn của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi, cần thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, đổi mới công tác tuyên truyền

Ứng dụng chuyển đổi số, chuyển hóa nội dung Điều 14 thành các ấn phẩm đồ họa (infograph-ics), video ngắn (Shorts/TikTok) phát trên mạng xã hội và truyền thanh thông minh. Giúp người dân hiểu rõ quy định bầu cử và công nhận người đại diện là để bảo vệ quyền lợi hợp pháp về tài sản của chính họ.

Thứ hai, thực thi công khai, minh bạch quy trình pháp lý

Ủy ban Nhân dân cấp xã phải hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ và ra quyết định công nhận nghiêm túc trong đúng 05 ngày làm việc, tuyệt đối không tự ý đặt ra điều kiện phụ. Mặt trận Tổ quốc thực hiện tốt vai trò giám sát để cuộc bầu cử diễn ra bình đẳng, khách quan.

Thứ ba, đấu tranh trên không gian mạng

Sử dụng công nghệ rà quét hiện đại để phát hiện sớm các thông tin bóp méo Điều 14. Kịp thời đấu tranh, gỡ bỏ thông tin độc hại và xử lý nghiêm minh các cá nhân cố tình chia sẻ thông tin xuyên tạc nhằm kích động, gây rối theo quy định của Luật An ninh mạng và Bộ luật Hình sự.

Thứ tư, phát huy vai trò giới tri thức và người có uy tín

Khuyến khích các nhà khoa học viết bài chuyên sâu trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo... để làm rõ tính tiến bộ của Luật. Tranh thủ tiếng nói của các già làng, trưởng bản, nhân sĩ trí thức khẳng định thực tế tự do tự quản tại cơ sở nhằm đập tan luận điệu xuyên tạc từ bên ngoài.

6. Kết luận

Quy định về cộng đồng dân cư trong Điều 14 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 là điểm sáng pháp lý, kết hợp hài hòa giữa quản lý nhà nước và tính dân chủ tự quản của Nhân dân. Các luận điệu xuyên tạc thực chất là chiêu trò chính trị của các thế lực thù địch nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chủ động nhận diện, thực thi nghiêm minh pháp luật và đấu tranh trực diện trên mọi mặt trận là nhiệm vụ thường xuyên để giữ gìn sự bình yên cho Nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Thanh Hà, Đổi mới tư duy lập pháp trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3/2026.

2. Đỗ Quang Hưng, Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam: Từ lý luận đến thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025.

3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước về công tác tôn giáo trong tình hình mới, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2026.