Trong giai đoạn 2021-2025 nhiều địa phương đã chủ động ban hành chính sách đặc thù về bảo tồn văn hóa gắn với phát triển du lịch (Trong ảnh: Nghi thức nhảy lửa trong lễ hội Bàn Vương)Từ khóa: Chính sách dân tộc; Dân tộc thiểu số; Địa phương.
1. Đặt vấn đề
Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số (DTTS), chiếm khoảng 14,6% dân số cả nước. Tuy nhiên, do điều kiện địa lý chia cắt và xuất phát điểm thấp, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) vẫn là “lõi nghèo” của cả nước. Trước thực tế đó, phát huy vai trò chủ động và sáng tạo của các địa phương trong xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc đặc thù gắn với nhu cầu thực tế tại chỗ là một tất yếu khách quan.
Chính sách dân tộc thời kỳ đổi mới của Việt Nam được định hình rõ nét trong Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc, với một trong 5 quan điểm mới, đó là: “Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị”.
Năm 2019, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 65-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc. Trong Kết luận số 65-KL/TW, Đảng ta đề ra chủ trương: “Đổi mới phương thức xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách”. Kết luận này đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong thiết kế chính sách dân tộc, chuyển từ hỗ trợ ngắn hạn sang đầu tư phát triển bền vững với nguồn lực nhà nước là quan trọng nhất và mang tính dẫn dắt. Chính sách tập trung vào các địa bàn đặc biệt khó khăn, các dân tộc thiểu số rất ít người, đồng thời đẩy mạnh phân cấp để các địa phương tự quyết định phương thức thực hiện phù hợp với đặc thù địa bàn.
2. Một số nhóm chính sách đặt thù của các địa phương
Từ quan điểm của Đảng, giai đoạn 2021-2025, 23/34 tỉnh, thành phố đã ban hành 65 chính sách đặc thù nhằm bổ trợ cho chính sách của Trung ương. Nội dung các chính sách tập trung vào những lĩnh vực thiết yếu như y tế, giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, bảo tồn văn hóa gắn với sinh kế, qua đó bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách chung của Trung ương và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện trên địa bàn.
Thứ nhất, nhóm chính sách đầu tư hạ tầng và hỗ trợ sản xuất, phát triển sinh kế
Nhiều tỉnh đã ban hành nghị quyết sử dụng ngân sách địa phương để giải quyết các điểm nghẽn về hạ tầng, như: Bắc Ninh có chính sách đầu tư xây dựng công trình ngầm, cầu dân sinh trên địa bàn vùng đồng bào DTTS&MN, giai đoạn 2022-2024 và kế hoạch giai đoạn 2026-2028; trong đó giai đoạn 2022 - 2024, ngân sách tỉnh hỗ trợ 150 tỷ đồng, ngân sách huyện 1,150 tỷ đồng trên tổng nhu cầu 154,1 tỷ đồng để hoàn thành, đưa vào sử dụng 75 công trình tại 69 thôn, bản vùng đặc biệt khó khăn. Tỉnh Lạng Sơn có chính sách hỗ trợ xây dựng nhà văn hóa thôn đạt chuẩn, sân tập thể dục thể thao xã. Tỉnh Phú Thọ thực hiện Dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Mông 02 xã Hang Kia, Pà Cò, với nhiệm vụ cải tạo, nâng cấp 08 công trình cơ sở hạ tầng, tổng mức đầu tư 9,9 tỷ đồng...
Trong phát triển sản xuất, tỉnh Bắc Ninh chi gần 1,4 tỷ đồng để hỗ trợ xây dựng mô hình nhãn ghép giống siêu ngọt, nuôi ong mật, bò giống, chăn nuôi ngựa thương phẩm. Tỉnh Điện Biên hỗ trợ tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, các hoạt động khuyến nông, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp. Tỉnh Lâm Đồng hỗ trợ lãi suất đối với hộ gia đình đồng bào DTTS vay vốn sản xuất kinh doanh; hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất và khoán bảo vệ rừng cho đồng bào DTTS. Đáng chú ý, tỉnh Lâm Đồng còn có chính sách “ứng trước trả sau” để đồng bào DTTS được tiếp cận giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Tỉnh Gia Lai có chính sách trợ giá sử dụng giống lúa lai, định mức lượng giống lúa lai cho 01 ha gieo trồng, loại giống trợ giá...
Thứ hai, nhóm chính sách về bảo tồn văn hóa gắn với phát triển du lịch
Đây là nội dung được các địa phương quan tâm ban hành nhiều chính sách riêng, thể hiện tính chủ động trong việc biến di sản văn hóa thành nguồn lực kinh tế. Tỉnh An Giang hỗ trợ đóng mới ghe ngo truyền thống của đồng bào Khmer. Tỉnh Bắc Giang (cũ), nay thuộc tỉnh Bắc Ninh có nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ bảo tồn, phát huy tiếng DTTS giai đoạn 2024-2030, làm căn cứ để triển khai các hoạt động biên tập, in tài liệu phục vụ truyền dạy tiếng Nùng, Tày, Sán Dìu, Cao Lan, Sán Chí, Hoa, Dao; mở lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức công tác bảo tồn ngôn ngữ tiếng DTTS và kỹ năng sư phạm cơ bản cho người truyền dạy và giáo viên tại các cơ sở giáo dục; mở lớp tiếng dân tộc Sán Dìu, Tày, Nùng tại các xã và Trường PTDTNT tỉnh. Thành phố Đà Nẵng hỗ trợ bảo tồn, phát huy, tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Cơ-tu. Tỉnh Đắk Lắk (cũ) hỗ trợ từ nguồn ngân sách địa phương gần 1,9 tỷ đồng để hỗ trợ phát triển du lịch tại 05 buôn du lịch cộng đồng. Tỉnh Lạng Sơn hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng và phát huy giá trị Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Lạng Sơn, giai đoạn 2025- 2030. Tỉnh Quảng Ngãi có Đề án bảo tồn và phát huy giá trị nghề truyền thống của các DTTS tại chỗ giai đoạn 2022-2025, để các cơ quan chức năng tổ chức thu thập nghề dệt thổ cẩm và nghề làm rượu cần của dân tộc Ba-na tại phường Kon Tum…
Thứ ba, nhóm chính sách hỗ trợ giáo dục, y tế
Các tỉnh An Giang, Cà Mau, Sóc Trăng (cũ) đều có chính sách đặc thù hỗ trợ việc dạy và học tiếng, chữ Khmer, chữ Hoa, khuyến khích người DTTS tham gia học xoá mù chữ.
Tỉnh Cao Bằng hỗ trợ tiền ăn, nhà ở, miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho học sinh DTTS. Tỉnh Điện Biên hỗ trợ tiền tài liệu cho học sinh con hộ nghèo, cận nghèo; hỗ trợ tiền ăn và chi phí tài liệu ôn luyện ngoại tỉnh; hỗ trợ giáo viên ôn luyện, kinh phí mời chuyên gia, tiền thưởng cho học sinh đạt giải, giáo viên có học sinh đạt giải kỳ thi chọn học sinh giỏi các môn văn hóa cấp quốc gia, khu vực và quốc tế. Tỉnh Đồng Nai (cũ) hỗ trợ Tết Nguyên đán cho học sinh, sinh viên có hộ khẩu thường trú trên địa bàn; hỗ trợ thêm tiền ăn 20% mức lương tối thiểu cho học sinh người DTTS học tại trường phổ thông dân tộc nội trú. Tỉnh Bình Phước (cũ) hỗ trợ học sinh, sinh viên DTTS đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng. Tỉnh Khánh Hòa cung cấp sữa tươi tiệt trùng cho trẻ mầm non tại các cơ sở giáo dục mầm non công lập nhằm cải thiện tầm vóc, thể lực, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng tại Khánh Sơn, Khánh Vĩnh. Tỉnh Bình Thuận (cũ) hỗ trợ học sinh, sinh viên người Cơ-ho, Raglai, Chơ Ro và học sinh, sinh viên các DTTS khác thuộc hộ nghèo, gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng. Tỉnh Quảng Trị hỗ trợ tăng thêm tiền ăn cho học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú và chi phí sinh hoạt cho học sinh, sinh viên là người DTTS. Thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ học phí cho học sinh DTTS, hỗ trợ chi phí học tập cho sinh viên DTTS hộ nghèo, cận nghèo, hỗ trợ chi phí học tập cho học viên cao học, nghiên cứu sinh người DTTS. Tỉnh Tây Ninh có Đề án đào tạo nghề nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống cho đồng bào DTTS, sau khi kết thúc khóa học, đa số học viên đều tự tạo việc làm.
Các tỉnh, thành phố: An Giang, Đà Nẵng, Gia Lai, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Bình Thuận (cũ), Vĩnh Long, Cần Thơ có chính sách hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế, mua thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo DTTS, người DTTS tại các xã, thôn, bản, tổ dân phố không thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, người DTTS đang sinh sống tại khu vực biên giới… Thành phố Đà Nẵng hỗ trợ trên 10 tỷ đồng mua bảo hiểm y tế cho 40.640 người DTTS trong giai đoạn 2022 - 2025. Đến nay, 100% đồng bào Cơ-tu đã được cấp thẻ bảo hiểm y tế…
Thứ tư, nhóm chính sách hỗ trợ công tác cán bộ và phát huy vai trò người có uy tín
Tỉnh Đắk Lắk (cũ) có Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS. Trên cơ sở đó tuyển dụng 1.464 công chức, viên chức người DTTS; đào tạo, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho 1.467 lượt người DTTS. Tỉnh Lai Châu cũng có chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức người DTTS. Hà Nội chi hỗ trợ hằng tháng bằng 0,5 mức lương cơ sở/người/tháng cho người có uy tín trong đồng bào DTTS. Tỉnh Trà Vinh (cũ) nay thuộc tỉnh Vĩnh Long có chính sách hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho người có uy tín trong đồng bào DTTS không thuộc đối tượng đã được ngân sách nhà nước đóng và hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế. Tỉnh Bình Định (cũ) nay thuộc tỉnh Gia Lai có chính sách hỗ trợ 121 người có uy tín, mức hỗ trợ 500.000 đồng/người/ tháng. Tỉnh Đồng Nai hỗ trợ xăng xe, cấp thẻ bảo hiểm y tế, cấp báo không thu tiền cho người có uy tín. Tỉnh Phú Yên (cũ) hỗ trợ hằng tháng cho người có uy tín…
Thứ năm, nhóm chính sách hỗ trợ khác Các tỉnh Tây Nam bộ Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội có chính sách hỗ trợ thực hiện các hoạt động trong dịp lễ hội và tết cổ truyền của đồng bào DTTS; thăm hỏi, động viên, chúc mừng các tổ chức tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng, chức sắc, chức việc tôn giáo, người đại diện cơ sở tín ngưỡng nhân các dịp lễ trọng của tổ chức tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng; trao tặng quà, học bổng cho sinh viên người DTTS có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào DTTS thuộc các diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ khó khăn, người già neo đơn, công nhân, sinh viên khó khăn… Tỉnh Đắk Lắk hỗ trợ tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu. Tỉnh Gia Lai cấp muối I-ốt; tỉnh Khánh Hòa hỗ trợ phụ nữ là người DTTS sinh con đúng chính sách dân số; tỉnh Lai Châu hỗ trợ chi phí mai táng cho người DTTS. Tỉnh Quảng Trị hỗ trợ đất ở và kinh phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất sản xuất cho hộ DTTS nghèo, cận nghèo ở xã khu vực III, thôn bản đặc biệt khó khăn…
3. Ưu điểm của cơ chế địa phương chủ động ban hành chính sách đặc thù
Việc các địa phương vùng đồng bào DTTS&MN chủ động ban hành chính sách đặc thù có nhiều ưu điểm, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu phát triển hiện nay không còn phù hợp với cách quản lý “một chính sách dùng cho mọi địa bàn” và đòi hỏi phải có sự phân cấp mạnh mẽ hơn để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đồng thời phản ánh sự chuyển biến về tư duy phát triển, từ hỗ trợ đồng loạt sang tiếp cận theo đặc thù văn hóa, điều kiện tự nhiên và nhu cầu thực tế của từng cộng đồng tộc người.
Trước hết, cơ chế này giúp chính sách “trúng” hơn với thực tiễn địa phương. Các vùng DTTS ở Việt Nam có sự khác biệt rất lớn về địa hình, sinh kế, tập quán sản xuất, điều kiện giao thông, trình độ dân trí và cả cấu trúc văn hóa. Một chính sách phù hợp với vùng Tây Bắc nhưng chưa chắc đã hiệu quả ở Tây Nguyên hay Tây Nam Bộ. Khi địa phương được chủ động thiết kế chính sách riêng sẽ có điều kiện nhận diện đúng “điểm nghẽn” của địa bàn để đưa ra giải pháp sát thực. Có nơi cần ưu tiên nước sinh hoạt, có nơi cần giữ rừng gắn với sinh kế, có nơi lại cần hỗ trợ tiếng Việt cho trẻ em trước tuổi đến trường… Chính sách vì thế trở nên cụ thể, linh hoạt và giảm nguy cơ dàn trải.
Thứ hai, tạo điều kiện phát huy tri thức tộc người và bản sắc văn hóa trong phát triển. Khi chủ động xây dựng chính sách riêng, địa phương thường hiểu rõ cộng đồng nào có nghề truyền thống cần bảo tồn, loại cây trồng nào phù hợp khí hậu tại chỗ, hay nghi lễ, không gian văn hóa nào có thể trở thành tài nguyên du lịch cộng đồng. Điều này mở ra khả năng biến văn hóa thành nguồn lực phát triển thay vì chỉ xem là đối tượng bảo tồn đơn thuần.
Thứ ba, tăng tính chủ động và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương. Khi thực hiện chính sách “từ trên xuống”, tâm lý phổ biến là chờ hướng dẫn, chờ phân bổ ngân sách và làm theo khuôn mẫu, nhưng khi được trao quyền ban hành chính sách đặc thù, địa phương buộc phải khảo sát kỹ thực tiễn, xây dựng dữ liệu, đánh giá tác động và chịu trách nhiệm về hiệu quả chính sách. Điều này thúc đẩy năng lực quản trị địa phương, đồng thời tạo ra môi trường thử nghiệm chính sách linh hoạt hơn. Thực tế cho thấy nhiều mô hình tốt hiện nay trong giảm nghèo, phát triển du lịch cộng đồng, bảo tồn văn hóa hay chi trả dịch vụ môi trường rừng đều bắt đầu từ sáng kiến cấp tỉnh.
Thứ tư, chính sách đặc thù giúp sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Cùng một khoản ngân sách nhưng nếu địa phương được quyền quyết định theo đặc điểm địa bàn thì hiệu quả đầu tư thường cao hơn. Có địa phương ưu tiên hỗ trợ sinh kế theo chuỗi giá trị; nơi khác tập trung đào tạo cán bộ người DTTS hoặc phát triển hạ tầng kết nối thị trường. Đây là tư duy đầu tư có trọng tâm thay vì chia đều cơ học, thậm chí một số địa phương có điều kiện phát triển mạnh mẽ về kinh tế như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng còn có thể áp dụng mức hỗ trợ cao cho người DTTS. Ví dụ Thành phố Hồ Chí Minh mở rộng đối tượng hỗ trợ học phí đến tận bậc cao học và nghiên cứu sinh người DTTS; Đà Nẵng đã đạt tỷ lệ 100% người dân Cơ-tu có thẻ bảo hiểm y tế; Hà Nội hỗ trợ 0,5 mức lương tối thiểu hằng tháng cho người có uy tín…
Thứ năm, chính sách đặc thù góp phần củng cố niềm tin của đồng bào với chế độ. Khi địa phương xây dựng được những cơ chế phù hợp với ngôn ngữ, văn hóa, tập quán và nhu cầu của cộng đồng, người dân sẽ cảm nhận rõ hơn sự quan tâm của Nhà nước. Điều này không chỉ có ý nghĩa về phát triển kinh tế mà còn về ổn định xã hội, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và giữ vững an ninh vùng biên giới, vùng chiến lược.
Thứ sáu, mở ra khả năng để địa phương tự xác định con đường phát triển. Trước đây, địa phương thường ở thế “thụ hưởng chính sách” nhưng khi được chủ động xây dựng cơ chế riêng, địa phương bắt đầu chuyển sang vai trò kiến tạo phát triển”. Hai trạng thái này khác nhau về bản chất. Một bên chờ nguồn lực phân bổ; bên kia chủ động nhận diện lợi thế, thiết kế mô hình phát triển phù hợp với văn hóa, tài nguyên và chất lượng nhân lực tại chỗ. Chính sách đặc thù cũng làm thay đổi cách nhìn về vùng đồng bào DTTS&MN. Trước kia, nhiều nơi ở vùng đồng bào DTTS&MN thường được nhìn bằng lăng kính khó khăn: thiếu điện, thiếu đường, thiếu vốn, thiếu nhân lực… Nhưng khi địa phương được trao quyền chủ động, lăng kính sẽ dịch chuyển sang hướng xem đây là vùng có tài nguyên văn hóa, tài nguyên sinh thái, tri thức tộc người phong phú…, những yếu tố căn bản của năng lực nội sinh hiện đang được khuyến khích phát huy như một nguồn lực phát triển.
Có thể thấy, xu hướng “địa phương hóa” chính sách dân tộc là phù hợp với tinh thần phân cấp, phân quyền hiện nay; phản ánh tư duy quản trị mới xem mỗi vùng DTTS là những không gian văn hóa - xã hội có đặc điểm riêng nên cần có cách tiếp cận chính sách riêng. Nếu phát huy tốt bài học này, các chính sách đặc thù sẽ tạo động lực để vùng đồng bào DTTS&MN chuyển từ vị thế vùng nhận hỗ trợ sang vùng có tiềm năng đặc sắc, từ đó thay đổi cách thiết kế chính sách theo hướng phát triển dựa trên bản sắc, nhu cầu thật và sự tham gia thực chất của cộng đồng.
4. Kết luận
Từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp chính thức được triển khai, mối quan hệ điều hành, phối hợp, thực thi chính sách chuyển sang trục tỉnh - xã. Cấp tỉnh không chỉ giữ vai trò ban hành kế hoạch, phân bổ nguồn lực, mà còn phải trực tiếp hơn trong chuẩn hóa quy trình, kết nối liên ngành, giám sát tiến độ và xử lý vướng mắc từ cơ sở. Vì vậy, phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương trong ban hành các chính sách dân tộc đặc thù phù hợp với điều kiện ngân sách và đòi hỏi thực tiễn tại địa bàn là một hướng đi đúng, hiệu quả trong giai đoạn 2021-2025. Giải pháp này cần tiếp tục được đẩy mạnh trong giai đoạn 2026-2030, nhằm góp phần giảm thiểu sự phụ thuộc của địa phương vào Trung ương; tăng cường phân cấp, phân quyền để tạo ra cơ hội phát triển nhanh, bền vững, bao trùm ở vùng đồng bào DTTS&MN trong bối cảnh mới.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (20260, Báo cáo tổng kết việc thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2021 - 2025, đề xuất định hướng chính sách dân tộc giai đoạn 2026 - 2030 (Báo cáo số 812/BC-BDTTG ngày 31/3/2026).
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Nghị quyết số 24-NQ/ TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác dân tộc.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác dân tộc.
4. Phụ lục III Danh mục các chính sách dân tộc đặc thù của địa phương giai đoạn 2021 - 2025 kèm theo Báo cáo số 812/ BC-BDTTG ngày 31/3/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.