Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Phát triển du lịch cộng đồng dựa vào tài nguyên văn hóa ở vùng dân tộc thiểu số thành phố Hà Nội

ThS. Nguyễn Duy Dũng* - 12:00, 04/09/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Vùng đồng bào dân tộc thiểu số của thành phố Hà Nội sở hữu hệ thống tài nguyên văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Mường và Dao, bao gồm lễ hội, tri thức địa phương, nghề thủ công, ẩm thực, nhà ở truyền thống và nghệ thuật dân gian, tạo tiềm năng lớn để phát triển du lịch cộng đồng. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng tại các xã: Mỹ Đức, Yên Xuân, Suối Hai, Ba Vì, Yên Bài,... đồng thời đề xuất các giải pháp theo hướng phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế và thực hiện các mục tiêu của Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 là yếu tố quyết định để nâng cao sức cạnh tranh của du lịch cộng đồng, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và phát triển kinh tế địa phương.

Du lịch Mường Cốc, xã Mỹ Đức, Hà Nội
Du lịch Mường Cốc, xã Mỹ Đức, Hà Nội

Từ khóa: Du lịch cộng đồng; Tài nguyên văn hóa; Dân tộc thiểu số; Thành phố Hà Nội; Phát triển bền vững; Bảo tồn văn hóa.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh phát triển du lịch theo hướng xanh, bền vững và lấy cộng đồng làm trung tâm, du lịch cộng đồng dựa vào tài nguyên văn hóa đang được xem là một trong những mô hình phát triển hiệu quả, vừa tạo sinh kế cho người dân, vừa bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Đối với Thành phố Hà Nội, bên cạnh hệ thống di sản văn hóa đô thị nổi tiếng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã Mỹ Đức, Yên Xuân, Suối Hai, Ba Vì, Yên Bài,... còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Mường và Dao, như: kiến trúc nhà ở truyền thống, lễ hội, tri thức địa phương, nghề thủ công, ẩm thực và nghệ thuật dân gian. Đây là những nguồn tài nguyên văn hóa có giá trị để phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng mang tính khác biệt và có sức cạnh tranh cao.

Triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 giai đoạn I từ 2021-2025 đã tạo cơ sở quan trọng để phát huy nguồn lực văn hóa gắn với phát triển sinh kế, giảm nghèo bền vững và nâng cao đời sống đồng bào. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc khai thác tài nguyên văn hóa phục vụ du lịch cộng đồng ở vùng dân tộc thiểu số của Thành phố Hà Nội vẫn còn phân tán, sản phẩm du lịch chưa thật sự đặc sắc, liên kết chuỗi giá trị còn hạn chế và vai trò trung tâm, chủ thể của cộng đồng chưa được phát huy đầy đủ.

Xuất phát từ thực tế đó, tác giả tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch cộng đồng dựa vào tài nguyên văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Thành phố Hà Nội theo hướng bền vững. Nghiên cứu hướng tới mục tiêu cân bằng giữa bảo tồn bản sắc văn hóa với phát triển kinh tế địa phương, tăng cường sự tham gia của cộng đồng, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Thành phố Hà Nội trong giai đoạn mới.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Tiềm năng và vai trò của tài nguyên văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Thành phố Hà Nội

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Thành phố Hà Nội, tập trung chủ yếu tại các xã Mỹ Đức, Yên Xuân, Suối Hai, Ba Vì, Yên Bài,... sở hữu hệ thống tài nguyên văn hóa phong phú, đa dạng của cộng đồng người Mường và Dao. Đây là nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, phù hợp với định hướng phát triển du lịch văn hóa, du lịch xanh và kinh tế sáng tạo của Thủ đô Hà Nội.

Tài nguyên văn hóa của khu vực không chỉ bao gồm các giá trị vật thể như nhà sàn truyền thống, công cụ lao động, nghề thủ công, trang phục dân tộc mà đồng thời còn bao hàm hệ thống di sản văn hóa phi vật thể như lễ hội, tiếng nói, dân ca, dân vũ, tri thức địa phương, nghệ thuật ẩm thực và tập quán sinh hoạt cộng đồng. Những giá trị này tạo nên bản sắc riêng của từng tộc người, góp phần hình thành các sản phẩm du lịch trải nghiệm có tính khác biệt, đáp ứng xu hướng du lịch tìm hiểu văn hóa và trải nghiệm đời sống địa phương đang phát triển mạnh hiện nay.

Thực tiễn cho thấy nhiều địa phương đã bước đầu khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên văn hóa để phát triển du lịch cộng đồng. Tại xã Ba Vì, cộng đồng người Dao và người Mường đã kết hợp khai thác cảnh quan tự nhiên với văn hóa truyền thống thông qua các hoạt động trải nghiệm nghề thuốc nam, ẩm thực dân tộc, trình diễn văn nghệ, lưu trú nhà sàn và tham quan các làng bản truyền thống, tạo nên những sản phẩm du lịch đặc sắc gắn với hệ sinh thái của khu vực.

Bên cạnh đó, mô hình du lịch cộng đồng tại Mường Cốc (xã Mỹ Đức) cho thấy việc phát huy các giá trị văn hóa Mường kết hợp với cảnh quan nông nghiệp và hệ thống homestay đã góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao nhận thức của người dân về bảo tồn di sản văn hóa. Việc cộng đồng trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ lưu trú, hướng dẫn trải nghiệm, giới thiệu ẩm thực và sản phẩm thủ công đã làm gia tăng giá trị chuỗi sản phẩm du lịch, đồng thời bảo đảm lợi ích kinh tế được phân bổ ngay trong cộng đồng.

Nếu xét dưới góc nhìn khoa học phát triển bền vững, tài nguyên văn hóa không chỉ là yếu tố tạo sức hấp dẫn cho điểm đến mà còn là nền tảng củng cố bản sắc cộng đồng, tăng cường sự gắn kết xã hội và tạo động lực phát triển sinh kế. Khi được khai thác trên cơ sở bảo tồn, có sự tham gia của người dân và gắn với chuyển đổi số, tài nguyên văn hóa sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh của du lịch cộng đồng vùng dân tộc thiểu số ở Thành phố Hà Nội, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch của Thủ đô, nâng cao đời sống đồng bào và thực hiện hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế gắn với bảo tồn di sản văn hóa trong giai đoạn mới.

2.2. Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng dựa vào tài nguyên văn hóa

Trong những năm gần đây, phát triển du lịch cộng đồng dựa vào tài nguyên văn hóa tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Thành phố Hà Nội đã có những chuyển biến tích cực nhờ sự quan tâm của Trung ương và Thành phố thông qua việc triển khai các chương trình phát triển du lịch bền vững, xây dựng nông thôn mới và Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng người Mường và Dao đã từng bước hình thành những sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống.

Hiện nay, Ba Vì là địa bàn phát triển khá rõ nét loại hình du lịch cộng đồng gắn với văn hóa của người Dao và người Mường. Nhiều hộ dân đã đầu tư mô hình homestay, dịch vụ tắm lá thuốc, ẩm thực truyền thống, trình diễn văn nghệ dân gian và trải nghiệm nghề thuốc nam, tạo nên chuỗi sản phẩm gắn kết giữa cảnh quan sinh thái với giá trị văn hóa bản địa. Các hoạt động này không chỉ đáp ứng nhu cầu trải nghiệm của du khách mà còn góp phần khôi phục nhiều nghề truyền thống và tri thức địa phương đang có nguy cơ mai một.

Đặc biệt là Mường Cốc (xã Mỹ Đức), nơi đang được Thành phố Hà Nội xây dựng trở thành điểm du lịch cộng đồng dựa trên bản sắc văn hóa Mường. Khu vực này hiện đã hình thành 6 thôn vùng lõi phát triển du lịch cộng đồng; 26/45 hộ dân tham gia cung ứng dịch vụ; 7 homestay, 4 farmstay, 8 tuyến đạp xe, 2 tuyến trekking, 8 chương trình trải nghiệm, gần 60 điểm tài nguyên và trải nghiệm được số hóa, đồng thời triển khai mô hình Refill Station và tiêu chí “5 Không” theo định hướng du lịch xanh, giảm phát thải. Đây là minh chứng cho cách tiếp cận lấy cộng đồng làm chủ thể, kết hợp bảo tồn văn hóa với chuyển đổi số và phát triển kinh tế địa phương.

Bên cạnh những kết quả tích cực, thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại vùng dân tộc thiểu số ở Thành phố Hà Nội vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Quy mô các điểm du lịch còn nhỏ, sản phẩm trải nghiệm chưa thật sự đa dạng; sự liên kết giữa các điểm đến với doanh nghiệp lữ hành và các trung tâm du lịch của Thủ đô còn thiếu chặt chẽ. Nguồn nhân lực du lịch còn hạn chế về là kỹ năng ngoại ngữ, quản trị điểm đến, marketing số và thương mại điện tử. Một số giá trị văn hóa truyền thống chưa được nghiên cứu, tư liệu hóa và khai thác thành sản phẩm du lịch có giá trị gia tăng cao.

Ngoài ra, cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống lưu trú, biển chỉ dẫn, trung tâm thông tin và các dịch vụ hỗ trợ tại một số địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu của khách du lịch chất lượng cao. Công tác bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch ở một số nơi còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch dài hạn; nguy cơ thương mại hóa lễ hội, nghề truyền thống và các thực hành văn hóa nếu khai thác thiếu kiểm soát vẫn hiện hữu.

Có thể nói, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Thành phố Hà Nội có tiềm năng lớn để phát triển du lịch cộng đồng dựa vào tài nguyên văn hóa. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh bền vững cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản trị điểm đến, nâng cao năng lực cộng đồng, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và tăng cường liên kết vùng. Đây là những điều kiện quyết định để tài nguyên văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế, bảo tồn bản sắc dân tộc và nâng cao đời sống của cộng đồng địa phương trong giai đoạn mới.

2.3. Giải pháp

Để phát triển du lịch cộng đồng dựa vào tài nguyên văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Thành phố Hà Nội theo hướng bền vững, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về thể chế, quy hoạch, bảo tồn di sản, phát triển nguồn nhân lực và chuyển đổi số.

Thứ nhất, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển du lịch cộng đồng theo hướng lồng ghép hiệu quả với Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, đồng thời đưa tài nguyên văn hóa của cộng đồng người Mường và Dao trở thành nguồn lực trung tâm trong quy hoạch phát triển du lịch của Thủ đô Hà Nội.

Thứ hai, cần đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa thông qua điều tra, kiểm kê, số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu về lễ hội, tri thức địa phương, nghề thủ công, nghệ thuật dân gian, ẩm thực và kiến trúc truyền thống. Việc khai thác các giá trị này cần bảo đảm tính xác thực, tránh thương mại hóa quá mức và gắn với sự tham gia chủ động của cộng đồng theo khuyến nghị của UNESCO về phát triển du lịch bền vững dựa trên di sản văn hóa.

Thứ ba, cần nâng cao năng lực cho cộng đồng thông qua đào tạo kỹ năng quản trị điểm đến, quản lý homestay, hướng dẫn du lịch, ngoại ngữ, marketing số và thương mại điện tử. Khuyến khích thành lập các hợp tác xã, tổ hợp tác và doanh nghiệp cộng đồng nhằm tăng cường liên kết sản xuất, nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng chuỗi giá trị du lịch.

Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý và quảng bá điểm đến bằng việc xây dựng bản đồ số tài nguyên văn hóa, ứng dụng mã QR, nền tảng đặt dịch vụ trực tuyến và truyền thông trên các nền tảng số. Kinh nghiệm từ mô hình Mường Cốc (xã Mỹ Đức) với việc số hóa các điểm tài nguyên, phát triển tuyến trải nghiệm và mô hình du lịch xanh cho thấy chuyển đổi số có thể nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và gia tăng trải nghiệm của du khách.

3. Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy phát triển du lịch cộng đồng dựa vào tài nguyên văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở thành phố Hà Nội là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển du lịch bền vững và kinh tế sáng tạo hiện nay. Điều này thống nhất với quan điểm của UNESCO và UN Tourism khi nhấn mạnh rằng cộng đồng địa phương phải giữ vai trò trung tâm trong bảo tồn di sản, đồng thời được hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động du lịch. Tài nguyên văn hóa chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển khi được quản trị trên cơ sở bảo tồn tính xác thực, phát huy tri thức địa phương và bảo đảm sự tham gia chủ động của cộng đồng.

Thực tiễn tại xã Ba Vì và đặc biệt là mô hình du lịch cộng đồng Mường Cốc (xã Mỹ Đức, thành phố Hà Nội) cho thấy việc kết hợp bảo tồn văn hóa Mường với phát triển homestay, trải nghiệm nông nghiệp, ẩm thực truyền thống, chuyển đổi số và du lịch xanh đã tạo ra những giá trị kinh tế, xã hội và văn hóa tích cực. Tuy nhiên, so với các mô hình thành công như: Sa Pa, Mù Cang Chải (tỉnh Lào Cai), Mai Châu (tỉnh Phú Thọ), Mộc Châu (tỉnh Sơn La),…. các điểm du lịch cộng đồng vùng dân tộc thiểu số của Thành phố Hà Nội vẫn còn hạn chế về quy mô sản phẩm, năng lực quản trị, mức độ liên kết chuỗi giá trị và khả năng tiếp cận thị trường.

Xét từ góc nhìn khoa học, tác giả cho rằng lợi thế cạnh tranh của vùng dân tộc thiểu số ở Thành phố Hà Nội không chỉ nằm ở tài nguyên văn hóa, đồng thời còn ở vị trí địa lý gần trung tâm Thủ đô và khả năng kết nối với mạng lưới du lịch văn hóa, sinh thái và di sản. Vì vậy, định hướng phát triển trong thời gian tới cần chuyển từ nhận thức, tư duy khai thác tài nguyên sang quản trị tài nguyên văn hóa; lấy cộng đồng làm chủ thể, lấy bản sắc văn hóa làm nền tảng và lấy chuyển đổi số làm công cụ nâng cao giá trị điểm đến. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành mô hình du lịch cộng đồng có bản sắc, có sức cạnh tranh và phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Thành phố Hà Nội trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

4. Kết luận

Phát triển du lịch cộng đồng dựa vào tài nguyên văn hóa là hướng tiếp cận phù hợp nhằm khai thác hiệu quả nguồn lực văn hóa của vùng đồng bào dân tộc thiểu số Thành phố Hà Nội, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế, bảo tồn di sản và nâng cao chất lượng đời sống cộng đồng. Hệ thống tài nguyên văn hóa của người Mường và Dao tại các xã, như: Mỹ Đức, Yên Xuân, Suối Hai, Ba Vì, Yên Bài,... là nền tảng quan trọng để xây dựng các sản phẩm du lịch có bản sắc, gia tăng sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của điểm đến. Tuy nhiên, để phát triển bền vững cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách; nâng cao năng lực quản trị của cộng đồng; đẩy mạnh số hóa tài nguyên văn hóa; tăng cường liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và người dân. Triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần thực hiện hiệu quả Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, giai đoạn I từ 2026- 2030 đồng thời xây dựng mô hình du lịch cộng đồng đặc trưng của Thủ đô theo hướng bền vững, bao trùm và giàu bản sắc văn hóa .

* Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo

Tài liệu tham khảo

1. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam (2023), Báo cáo phát triển du lịch cộng đồng Việt Nam, Hà Nội.

2. Hồ Hạ (2026), Hà Nội: Mương Cốc mở rộng liên kết, kiến tạo mô hình du lịch cộng đồng bền vững, https:// baodautu.vn/ha-noi-muong-coc-mo-rong-lien-ket-kientao-mo-hinh-du-lich-cong-dong-ben-vung-d632785.html

3. Kim Nhung (2026), Mường Cốc phát huy bản sắc văn hóa Mường gắn với phát triển du lịch cộng đồng, https:// sodantoctongiao.hanoi.gov.vn/tin-tong-hop/muong-cocphat-huy-ban-sac-van-hoa-muong-gan-voi-phat-trien-dulich-cong-dong-2857260707093305813.htm

4. Hoàng Quyên, Văn Biên (2026), Du lịch Mường Cốc - Điểm đến cộng đồng, xanh nổi bật của Thủ đô, https:// hanoimoi.vn/du-lich-muong-coc-diem-den-cong-dongxanh-noi-bat-cua-thu-do-1210215.html

5. Quốc hội (2017), Luật Du lịch.

6. Sở Du lịch Hà Nội (2024), Báo cáo phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Hà Nội.

7. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1719/QĐTTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, Hà Nội