Nguồn lực con người và tri thức địa phương giữ vai trò quan trọng trong phát triển vùng dân tộc thiểu số1. Đặt vấn đề
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước, là nơi sinh sống của hơn 14,8 triệu người thuộc 53 dân tộc thiểu số, đồng thời sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa, sinh thái và tri thức địa phương đặc biệt phong phú. Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thông qua các chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nhất là Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 (gọi tắt là Chương trình 1719), diện mạo nhiều địa phương đã có sự đổi thay tích cực. Tuy nhiên, khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với các khu vực khác vẫn còn khá lớn; chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động và khả năng khai thác các nguồn lực nội sinh còn nhiều hạn chế.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và biến đổi khí hậu đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, yêu cầu phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đòi hỏi phải chuyển từ tư duy hỗ trợ sang phát huy nội lực. Trong đó, nguồn lực con người và tri thức địa phương được xem là hai yếu tố nền tảng. Nguồn lực con người không chỉ bao gồm trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực sáng tạo mà còn là khả năng tiếp nhận, truyền thụ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Tri thức địa phương được hình thành qua nhiều thế hệ, chứa đựng những kinh nghiệm quý báu về canh tác, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, y học dân gian và tổ chức đời sống cộng đồng.
Do đó, nghiên cứu phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ nguồn lực con người và tri thức địa phương có ý nghĩa quan trọng, cần thiết cả về lý luận và thực tiễn. Đây không chỉ là cơ sở khoa học để phát huy nguồn lực nội sinh, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc mà còn góp phần xây dựng các mô hình phát triển phù hợp, bền vững và thích ứng với những yêu cầu mới của quá trình phát triển đất nước.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Vai trò của nguồn lực con người và tri thức địa phương đối với sự phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nguồn lực con người và tri thức địa phương được xem là hai trụ cột quan trọng của nguồn lực nội sinh, có vai trò quyết định đến tính bền vững và khả năng tự chủ của cộng đồng. Đây không chỉ là nguồn lực phục vụ tăng trưởng kinh tế mà còn là nền tảng để bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực thích ứng trước những biến động của thời đại.
Trước hết, nguồn lực con người giữ vai trò trung tâm trong mọi quá trình phát triển. Con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng thụ hưởng các thành quả phát triển. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực quản lý và khả năng tiếp cận khoa học công nghệ sẽ góp phần trực tiếp nâng cao năng suất lao động, cải thiện sinh kế và giảm nghèo bền vững. Thực tiễn cho thấy nhiều địa phương, như: Lào Cai, Tuyên Quang, Sơn La, Đắk Lắk,… đã hình thành đội ngũ thanh niên, trí thức và doanh Nhân dân tộc thiểu số tham gia phát triển du lịch cộng đồng, thương mại điện tử và sản xuất nông nghiệp hàng hóa, tạo động lực mới cho phát triển địa phương.
Bên cạnh đó, tri thức địa phương là nguồn tài sản văn hóa đặc biệt được hình thành qua nhiều thế hệ. Những kinh nghiệm về canh tác trên đất dốc của người Mông ở tỉnh Tuyên Quang; kỹ thuật dẫn thủy nhập điền của người Thái ở các tỉnh Sơn La, Điện Biên; mô hình quản lý rừng cộng đồng của các dân tộc Ê-đê, Mnông, Gia-rai, Ba na,… ở các tỉnh: Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng; hay kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của người Dao ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã chứng minh giá trị thực tiễn to lớn của tri thức địa phương trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, các tri thức địa phương còn góp phần nâng cao khả năng thích ứng của cộng đồng trước thiên tai và suy giảm tài nguyên thiên nhiên.
Nguồn lực con người và tri thức địa phương còn đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Chính cộng đồng địa phương là chủ thể lưu giữ ngôn ngữ, lễ hội, nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật dân gian và các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc mình. Khi được khai thác hợp lý, các giá trị này có thể trở thành nguồn lực phát triển du lịch cộng đồng, kinh tế văn hóa và các sản phẩm OCOP đặc trưng, góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, sự kết hợp giữa nguồn lực con người chất lượng cao với tri thức địa phương sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh đặc thù cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đây là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế xanh, kinh tế sáng tạo và phát triển bền vững, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số với các khu vực khác của cả nước.
2.2. Thực trạng phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi từ nguồn lực con người và tri thức địa phương
Trong những năm qua, cùng với việc triển khai các chính sách dân tộc và Chương trình 1719 việc phát huy nguồn lực con người và tri thức địa phương đã góp phần tạo nên những chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương. Đây được xem là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nội sinh, giảm nghèo bền vững và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
Về nguồn lực con người, chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã từng bước được nâng lên. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú và các chính sách hỗ trợ giáo dục đã tạo điều kiện để đồng bào tiếp cận tốt hơn với giáo dục và đào tạo nghề. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số biết đọc, biết viết chữ phổ thông ngày càng tăng; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số từng bước được củng cố. Nhiều thanh niên dân tộc thiểu số đã chủ động ứng dụng khoa học công nghệ, thương mại điện tử và chuyển đổi số vào phát triển sản xuất, kinh doanh. Tại các tỉnh Lào Cai, Tuyên Quang và Sơn La, Điện Biên… nhiều mô hình khởi nghiệp của thanh niên dân tộc Mông, Dao, Thái gắn với du lịch cộng đồng, nông nghiệp hữu cơ và sản phẩm OCOP đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, góp phần tạo việc làm tại chỗ và hạn chế tình trạng di cư lao động.
Bên cạnh nguồn lực con người, tri thức địa phương tiếp tục được khai thác và phát huy trong nhiều lĩnh vực. Trong sản xuất nông nghiệp, đồng bào Mông ở các tỉnh như: Tuyên Quang, Lào Cai,… vẫn duy trì hiệu quả các phương thức canh tác trên đất dốc, kỹ thuật bảo tồn giống cây trồng địa phương và kinh nghiệm dự báo thời tiết dựa vào các dấu hiệu tự nhiên. Người Thái ở tỉnh Sơn La, Điện Biên phát huy hệ thống thủy lợi truyền thống và kinh nghiệm quản lý nguồn nước cộng đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tại khu vực Tây Nguyên, các cộng đồng Ê-đê, Bana, Gia-rai,… tiếp tục bảo tồn và vận dụng tri thức quản lý rừng cộng đồng, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và duy trì sinh kế bền vững.
Trong lĩnh vực du lịch, nhiều giá trị tri thức địa phương đã được chuyển hóa thành sản phẩm kinh tế. Các mô hình du lịch cộng đồng tại các địa bàn: Sa Pa (tỉnh Lào Cai), Đồng Văn, Mèo Vạc (Tuyên Quang), Mộc Châu (tỉnh Sơn La), Mai Châu (tỉnh Phú Thọ), hay Kon Plông (tỉnh Quảng Ngãi),… đã khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống, nghề thủ công, ẩm thực dân tộc và tri thức địa phương để thu hút du khách. Qua đó, vừa tạo nguồn thu nhập cho người dân, vừa góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa đặc sắc.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhìn chung vẫn thấp hơn mặt bằng chung của cả nước; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn hạn chế. Một bộ phận thanh niên dân tộc thiểu số thiếu kỹ năng số và kỹ năng quản trị kinh doanh. Nhiều tri thức địa phương đang đứng trước nguy cơ mai một do tác động của đô thị hóa, biến đổi khí hậu và quá trình giao lưu văn hóa. Không ít nghề thủ công truyền thống, bài thuốc dân gian, ngôn ngữ dân tộc và kinh nghiệm sản xuất địa phương đang dần bị lãng quên do thiếu cơ chế bảo tồn và truyền dạy hiệu quả.
Có thể nói, nguồn lực con người và tri thức địa phương đã và đang đóng vai trò quan trọng trong phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, việc phát huy các nguồn lực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Điều đó đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo tồn tri thức địa phương và thúc đẩy sự kết hợp giữa tri thức truyền thống với khoa học công nghệ hiện đại để tạo động lực phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
2.3. Định hướng và giải pháp đối với phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi từ nguồn lực con người và tri thức địa phương
Thứ nhất, cần ưu tiên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số thông qua phát triển giáo dục, đào tạo nghề và kỹ năng số. Việc mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng, tăng cường đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động và hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số khởi nghiệp sẽ tạo điều kiện để người dân chủ động tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, cần chú trọng phát triển đội ngũ trí thức, doanh nhân và cán bộ người dân tộc thiểu số nhằm hình thành lực lượng nòng cốt thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại địa phương.
Thứ hai, cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, số hóa và phát huy giá trị tri thức địa phương. Các tri thức về canh tác nông nghiệp, quản lý tài nguyên, y học dân gian, nghề thủ công truyền thống và văn hóa dân gian cần được điều tra, sưu tầm, xây dựng cơ sở dữ liệu số và tích hợp vào các chương trình giáo dục cộng đồng. Đây là giải pháp quan trọng nhằm ngăn chặn nguy cơ mai một tri thức truyền thống và tạo cơ sở cho việc khai thác phục vụ phát triển kinh tế.
Thứ ba, thúc đẩy sự kết hợp giữa tri thức địa phương với khoa học công nghệ hiện đại. Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và các mô hình sản xuất thông minh vào các ngành nghề truyền thống sẽ góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ. Đồng thời, cần phát triển các mô hình du lịch cộng đồng, kinh tế văn hóa, sản phẩm OCOP và nông nghiệp sinh thái dựa trên lợi thế của tri thức địa phương.
Thứ tư, Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo vệ quyền sở hữu đối với tri thức truyền thống, tăng cường đầu tư cho hạ tầng số và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Triển khai đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần phát huy hiệu quả nguồn lực con người và tri thức địa phương, tạo động lực cho phát triển nhanh và bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới.
3. Thảo luận
Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu nêu trên cho thấy, nguồn lực con người và tri thức địa phương không chỉ là những yếu tố hỗ trợ mà thực sự là nền tảng của quá trình phát triển nội sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thực tiễn tại nhiều địa phương, như: Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk,… đã chứng minh rằng nơi nào biết phát huy hiệu quả tri thức địa phương kết hợp với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì nơi đó có khả năng tạo ra các mô hình phát triển kinh tế bền vững, phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa và xã hội của cộng đồng.
Tri thức địa phương không chỉ mang giá trị văn hóa mà còn chứa đựng những kinh nghiệm thực tiễn về quản lý tài nguyên, sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Khi được kế thừa và kết hợp với khoa học công nghệ hiện đại, những tri thức này có thể trở thành nguồn lực phát triển quan trọng trong các lĩnh vực nông nghiệp sinh thái, du lịch cộng đồng, kinh tế xanh và kinh tế sáng tạo.
Tuy nhiên, thực tiễn nghiên cứu cũng cho thấy một số thách thức đang đặt ra đối với việc phát huy nguồn lực nội sinh. Chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn hạn chế; quá trình di cư lao động và tác động của toàn cầu hóa làm gia tăng nguy cơ mai một tri thức truyền thống. Bên cạnh đó, việc số hóa, bảo tồn và thương mại hóa các giá trị tri thức địa phương vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.
Nếu xét ở góc nhìn khoa học trong phát triển bền vững, có thể khẳng định nguồn lực con người và tri thức địa phương có mối quan hệ hữu cơ, bổ trợ lẫn nhau. Con người là chủ thể sáng tạo, lưu giữ và phát huy tri thức; trong khi tri thức địa phương tạo nên bản sắc, lợi thế cạnh tranh và khả năng thích ứng của cộng đồng. Vì vậy, chiến lược phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới cần đặt người dân vào vị trí trung tâm, đồng thời coi việc bảo tồn và phát huy tri thức địa phương là một nội dung quan trọng nhằm tạo động lực phát triển bền vững, toàn diện và bao trùm.
4. Kết luận
Nguồn lực con người và tri thức địa phương là hai trụ cột quan trọng tạo nên động lực phát triển nội sinh của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Qua nghiên cứu cho thấy, việc phát huy hiệu quả chất lượng nguồn nhân lực gắn với bảo tồn, kế thừa và ứng dụng tri thức địa phương đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, trước những tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và biến đổi khí hậu, các nguồn lực này đang đứng trước nhiều thách thức về chất lượng nhân lực, nguy cơ mai một tri thức truyền thống và hạn chế trong ứng dụng khoa học công nghệ. Vì vậy, cần có các chính sách đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, số hóa và phát huy tri thức địa phương, kết hợp hài hòa giữa giá trị truyền thống với đổi mới sáng tạo. Đây là cơ sở quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và bao trùm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới .
* Học viện Quốc phòng, Bộ Quốc phòng
Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ (2022), Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ: Ban hành Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội.
2. Đỗ Văn Chiến (2021), Một số kết quả chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020; mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu giai đoạn 2021-2025”. Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội.
3. Nguyễn Duy Dũng (2026), Ứng dụng khoa học công nghệ góp phần nâng cao gia trị tri thức địa phương vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo, số 1+2 (5), tháng 1+2/2026.
4. Hà Trọng Nghĩa, Nguyễn Duy Dũng (2022), Đồng hành cùng sự phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong bối cảnh hiện nay, Tạp chí Mặt trận, số 223 (tháng 3).
5. Quốc hội (2019), Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Hà Nội.
6. Quốc hội (2020), Nghị quyết số 120/2020/QH14 về chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, Hà Nội.
7. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025, Hà Nội.
8. Minh Vân. (2024). Phát triển nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số còn hạn chế, https://daibieunhandan.vn/phattrien-nhan-luc-chat-luong-cao-nguoi-dan-toc-thieu-so-con-hanche-10354964.html.