Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Rừng là hiện thân của Mẹ thiên nhiên - Nơi con người được nuôi dưỡng và bao bọc

Nguyễn Duy Dũng - Đinh Thị Y Ban Qúy - Nông Hồng Hạnh - 19:12, 04/08/2026

(DTTG) - Với nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, rừng không chỉ là nơi khởi nguồn của sự sống, đặc biệt còn được xem là hiện thân của “Mẹ thiên nhiên”, người mẹ bao dung nuôi dưỡng con người từ nguồn nước, cây cỏ đến những giá trị văn hóa và tinh thần. Quan niệm ấy không chỉ phản ánh một tín ngưỡng dân gian mà còn chứa đựng triết lý sống sâu sắc về mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên, một giá trị đang trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và phát triển bền vững hiện nay…

Với nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, rừng không chỉ là nơi khởi nguồn của sự sống, đặc biệt còn được xem là hiện thân của “Mẹ thiên nhiên”, người mẹ bao dung nuôi dưỡng con người từ nguồn nước, cây cỏ đến những giá trị văn hóa và tinh thần
Với nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, rừng không chỉ là nơi khởi nguồn của sự sống, đặc biệt còn được xem là hiện thân của “Mẹ thiên nhiên”, người mẹ bao dung nuôi dưỡng con người

Càng đi nhiều, gặp nhiều các cộng đồng dân tộc thiểu số trên mọi miền đất nước, tôi càng nhận ra đó không chỉ là tập quán, mà là một triết lý sống được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Đó là cách người vùng cao gọi rừng bằng một cái tên đầy sự kính trọng: Mẹ Thiên nhiên.

Ở nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, như: Ê Đê, Ba Na, Xơ Đăng, Mnông, Cơ Tu, Tà Ôi, Dao, Mông, Hà Nhì... đều có chung một quan niệm, đó là: Rừng là nơi khởi nguồn của sự sống. Rừng cho nước uống, cho đất màu, cho cây thuốc, cho thức ăn, cho mái nhà và cả sự chở che trước thiên tai. Vì vậy, rừng không đơn giản là một hệ sinh thái, đặc biệt còn là “người mẹ” nuôi lớn con người bằng sự bao dung và bền chặt, gắn kết.

Ngày nay, khi khoa học hiện đại phát triển, nhiều phát hiện mới về sinh thái càng cho thấy cách nhìn của cư dân địa phương không hề cảm tính. Rừng thực sự là nền tảng của sự sống. Rừng giữ nước, điều hòa khí hậu, bảo vệ đất, giảm xói mòn, hấp thụ khí carbon, tạo ra oxy và duy trì đa dạng sinh học. Mỗi cánh rừng khỏe mạnh đều góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và cân bằng sinh thái cho cả một vùng rộng lớn.

Nhưng điều mà khoa học diễn giải bằng số liệu thì người vùng cao, miền núi đã cảm nhận và ý thức từ rất lâu bằng trải nghiệm sống.

Họ hiểu rằng nếu mất rừng, suối sẽ cạn.

Nếu rừng nghèo đi, đất sẽ bạc màu.

Và nếu cây cổ thụ ngã xuống, bản làng cũng mất đi một phần linh hồn.

Vì vậy, có lẽ mà trong nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, trước khi bước vào rừng khai thác lâm sản, người ta đều thực hiện những nghi lễ xin phép thần rừng. Sau mỗi mùa vụ, nhiều nơi vẫn duy trì lễ cúng rừng để tạ ơn thiên nhiên đã nuôi dưỡng con người.

Đặc biệt, nhìn dưới góc độ về văn hóa, đây là những nghi lễ tín ngưỡng. Nhưng nhìn từ góc độ quản trị tài nguyên, đó lại là một cơ chế tự quản cộng đồng rất hiệu quả.

Không ai được tự ý chặt cây trong rừng thiêng.

Không ai được săn bắt thú rừng trong mùa sinh sản.

Không ai được làm ô nhiễm nguồn nước đầu nguồn.

Những quy ước ấy được truyền từ đời này sang đời khác như một “bộ luật bất thành văn”, giúp nhiều cánh rừng được bảo vệ hàng trăm năm.

Nhiều khu rừng còn giữ được sự nguyên vẹn ở Việt Nam đều gắn với những cộng đồng dân tộc thiểu số có đời sống văn hóa truyền thống bền vững. Họ không bảo vệ rừng chỉ vì pháp luật quy định, mà bởi trong nhận thức của họ, phá rừng đồng nghĩa với làm tổn thương chính “người mẹ” đã nuôi dưỡng mình
Nhiều khu rừng còn giữ được sự nguyên vẹn ở Việt Nam đều gắn với những cộng đồng dân tộc thiểu số có đời sống văn hóa truyền thống bền vững. Họ không bảo vệ rừng chỉ vì pháp luật quy định, mà còn bởi trong nhận thức của họ, phá rừng đồng nghĩa với làm tổn thương chính “người mẹ” đã nuôi dưỡng mình

TS. Bế Trường Thành, nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo) chia sẻ: Điều đặc biệt trong tư duy của cộng đồng cư dân địa phương là họ chưa bao giờ đặt con người ở vị trí thống trị thiên nhiên. Và con người chỉ là một thành viên trong hệ sinh thái rộng lớn. Muốn tồn tại, con người phải biết tôn trọng tự nhiên và ứng xử hài hòa với môi trường.

Đó là điểm rất gần với nhận thức, tư duy phát triển bền vững mà thế giới đang hướng tới.

Còn theo TS. Lò Giàng Páo, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Hỗ trợ Kinh tế miền núi Việt Nam chia sẻ: Khái niệm “Mẹ thiên nhiên” không đơn giản là việc nhân cách hóa thiên nhiên. Đây là một triết lý sinh thái sâu sắc, thể hiện nhận thức của cộng đồng rằng thiên nhiên là nguồn gốc của sự sống. Khi coi rừng là mẹ, con người sẽ ứng xử với rừng bằng lòng biết ơn, sự kính trọng và trách nhiệm. Đây là giá trị rất cần được kế thừa trong bối cảnh hiện nay”.

Thực tế cho thấy, nhiều khu rừng còn giữ được sự nguyên vẹn ở Việt Nam đều gắn với những cộng đồng dân tộc thiểu số có đời sống văn hóa truyền thống bền vững. Họ không bảo vệ rừng chỉ vì pháp luật quy định, mà bởi trong nhận thức của họ, phá rừng đồng nghĩa với làm tổn thương chính “người mẹ” đã nuôi dưỡng mình.

Và đó là một cách nghĩ rất nhân văn… Ngày nay, khi biến đổi khí hậu trở thành thách thức toàn cầu, nhiều quốc gia bắt đầu nhìn nhận nghiêm túc hơn vai trò của tri thức địa phương trong quản lý tài nguyên thiên nhiên. Những kinh nghiệm của đồng bào dân tộc thiểu số về bảo vệ rừng, sử dụng nguồn nước, khai thác lâm sản và gìn giữ đa dạng sinh học đang được đánh giá là nguồn tri thức quý giá cần được quan tâm, tiếp tục nghiên cứu và phát huy.

Ở Việt Nam, điều này càng có ý nghĩa khi phần lớn diện tích rừng tự nhiên nằm ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Không chỉ là người sống gần rừng nhất, đồng bào dân tộc thiểu số còn là những người hiểu rừng nhất.

Họ biết mùa nào lấy măng. Mùa nào hái thuốc. Loài cây nào cần giữ lại để giữ nước. Khoảng rừng nào tuyệt đối không được xâm phạm...

Có lẽ, những hiểu biết ấy không được ghi trong sách, mà được truyền qua lời kể của người già, qua những chuyến đi rừng cùng cha mẹ và qua chính trải nghiệm của nhiều thế hệ.

Tại một cuộc hội thảo khoa học gần đây, TS. Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng: Nếu biết kết hợp hài hòa giữa khoa học hiện đại với tri thức địa phương, công tác bảo vệ rừng sẽ hiệu quả hơn rất nhiều. Người dân là đối tượng được tuyên truyền, đồng thời phải trở thành chủ thể quản lý, giám sát và hưởng lợi từ rừng.

Đó cũng là xu hướng mà nhiều quốc gia đang áp dụng trong quản trị tài nguyên thiên nhiên.

Đặc biệt, điều đáng suy ngẫm là trong khi xã hội hiện đại đang nói nhiều đến “kinh tế xanh”, “tăng trưởng xanh”, “kinh tế tuần hoàn” thì người vùng cao, miền núi đã thực hành những nguyên tắc ấy từ rất lâu.

Họ chỉ lấy những gì thật sự cần.

Họ luôn để lại phần cho mùa sau.

Họ coi việc bảo vệ nguồn nước cũng quan trọng như bảo vệ sự sống của bản làng.

Đó chính là tinh thần phát triển bền vững theo đúng nghĩa.

Một cánh rừng không chỉ tạo ra giá trị kinh tế.

Rừng còn tạo ra văn hóa.

Mất rừng, nhiều lễ hội truyền thống sẽ không còn không gian để tồn tại.

Mất rừng, nhiều cây thuốc quý sẽ biến mất.

Mất rừng, nhiều làn điệu dân ca, truyền thuyết và tín ngưỡng gắn với núi rừng cũng dần mai một.

Bởi vậy, bảo vệ rừng không chỉ là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt còn là bảo vệ ký ức văn hóa của nhiều cộng đồng dân tộc.

Bảo vệ rừng không chỉ là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt còn là bảo vệ ký ức văn hóa của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số
Bảo vệ rừng không chỉ là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt còn là bảo vệ ký ức văn hóa của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số

Có lẽ, điều khiến chúng ta suy nghĩ nhiều nhất sau những chuyến đi vùng cao, miền núi không phải là những cánh rừng nguyên sinh và những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, mà là cách người dân cúi đầu trước khu rừng thiêng với sự thành kính như đứng trước chính người mẹ của mình.

Trong cái cúi đầu ấy có lòng biết ơn. Có sự khiêm nhường.

Và có cả lời nhắc nhở rằng con người không thể sống tách rời thiên nhiên.

Chúng ta có thể xây những thành phố hiện đại. Có thể tạo ra những công nghệ tiên tiến. Nhưng sẽ không có công nghệ nào thay thế được một cánh rừng nguyên sinh. Cũng không có sự phát triển nào thực sự bền vững nếu con người đánh mất mối quan hệ hài hòa với thiên nhiên.

Rừng vẫn lặng lẽ giữ nước cho những dòng sông.

Giữ đất cho những cánh đồng.

Giữ không khí trong lành cho cuộc sống.

Giữ đa dạng sinh học cho hành tinh.

Và trên tất cả, rừng vẫn đang gìn giữ một bài học giản dị nhưng sâu sắc mà cha ông ta đã đúc kết từ bao đời, đó là sự biết ơn thiên nhiên cũng chính là biết gìn giữ tương lai của chính mình.

Lễ hội tạ ơn rừng là sự kiện tái hiện nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào Cơ Tu, đồng thời mang ý nghĩa rất lớn trong việc biểu dương các hành động đẹp, khuyến khích việc giữ rừng của các cộng đồng dân tộc thiểu số được giao khoán bảo vệ rừng. Và đặc biệt còn nhắc nhớ con cháu biết gìn giữ những cánh rừng
Lễ hội tạ ơn rừng của đồng bào Cơ Tu

Do vậy, có lẽ, cách gọi “Mẹ thiên nhiên” chưa bao giờ chỉ là một hình ảnh giàu chất thơ. Đặc biệt, đó là một triết lý sống, một giá trị văn hóa sâu sắc, một lời nhắc nhở về trách nhiệm của con người đối với rừng. Bởi khi vòng tay của “Mẹ Thiên nhiên” còn xanh, sự sống vẫn tiếp tục sinh sôi; và khi con người biết gìn giữ những cánh rừng, cũng là lúc chúng ta đang gìn giữ ngôi nhà chung của hôm nay và mai sau…/.