Kết thúc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2021-2025 tỷ lệ giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số đạt bình quân 3,4%/ nămTừ khóa: Chính sách dân tộc; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Chương trình mục tiêu quốc gia; Tư duy mới.
1. Tư duy mới trong Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025
Thời điểm những năm 2020, 2021, sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có tiềm lực để đầu tư nhiều hơn cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là khi đời sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đang còn khó khăn, tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt chưa được giải quyết triệt để; khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và miền núi với các vùng khác có xu hướng gia tăng. Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số phải di dời nhà cửa, ruộng vườn để xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi, giao thông, công trình trọng điểm quốc gia nhưng đời sống chưa ổn định, còn nhiều khó khăn. Một số tệ nạn xã hội và phong tục tập quán lạc hậu chưa được xóa bỏ còn tác động xấu đến đời sống. Chính sách đầu tư vùng dân tộc thiểu số và miền núi và vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn được ban hành nhiều, bao phủ hết các mặt của đời sống xã hội nhưng thiếu nguồn lực thực hiện, dẫn đến không đạt mục tiêu đề ra...
Trên bình diện quốc tế, mâu thuẫn, xung đột, ly khai vẫn là các yếu tố không thể xem thường, có thể tác động đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình bằng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo…
Chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021-2025 (Chương trình 1719) ra đời đã cụ thể hóa 6 quan điểm mới của Đảng, Nhà nước về chính sách dân tộc, về vùng dân tộc thiểu số và miền núi: (i) Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số. Các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh phải toàn diện, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng và tinh thần tự lực của đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền; tăng cường đồng thuận xã hội; phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, hòa nhập phát triển cùng với đất nước; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước; (ii) Phát huy mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển vùng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc. Tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức thiết; thúc đẩy đào tạo nghề, giải quyết việc làm. Lồng ghép, bảo đảm bình đẳng giới trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án; (iii) Nguồn lực nhà nước là quan trọng và có ý nghĩa quyết định; tăng cường hợp tác quốc tế, đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực, huy động, thu hút, phát huy mọi nguồn lực để đầu tư phát triển nhanh, bền vững; nâng cao hiệu quả và mở rộng vốn tín dụng ưu đãi đối với các dự án, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức phát triển sản xuất, kinh doanh trong vùng; (iv) Đầu tư phát triển kinh tế-xã hội vùng là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân; thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số so với bình quân chung của cả nước; (v) Phát triển kinh tế-xã hội vùng gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia, xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; (vi) Tích hợp chính sách đồng bộ, thống nhất, thu gọn đầu mối quản lý, phân công nhiệm vụ rõ ràng; phát huy vai trò, chức năng của cơ quan công tác dân tộc; bảo đảm và nâng cao hiệu quả nguồn lực đầu tư; ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung cho địa bàn đặc biệt khó khăn, nhóm dân tộc có khó khăn đặc thù.
Từ những yêu cầu, quan điểm mới của Đảng, Nhà nước và đặt trong bối cảnh quốc gia, quốc tế, Chương trình 1719 mang tính đặc biệt và đặc thù cao, được tích hợp từ 118 chính sách, nội dung chính sách dân tộc có hiệu lực trước năm 2020, bổ sung một số chính sách mới, phân thành 10 dự án, 14 tiểu dự án, 36 nội dung thành phần; là Chương trình MTQG được thực hiện lần đầu trên địa bàn rộng, đối tượng đa dạng, tại 49 tỉnh, thành phố có đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, với sự tham gia của 24 bộ, ban, ngành ở Trung ương.
Chương trình 1719 tập trung giải quyết các vấn đề cấp bách, bức thiết của vùng theo thứ tự ưu tiên: giải quyết cơ bản tình trạng thiếu nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; sắp xếp, bố trí ổn định dân cư ở địa bàn đặc biệt khó khăn, nhất là vùng nguy cơ cao về thiên tai; phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, đảm bảo cho người dân có thu nhập ổn định từ bảo vệ và phát triển rừng, bảo đảm sinh kế bền vững; đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu; chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền biên giới quốc gia; quan tâm công tác truyền thông, tuyên truyền và biểu dương, tôn vinh điển hình tiên tiến; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc.
Tổng mức vốn để thực hiện giai đoạn 2021- 2025 là trên 137 nghìn tỷ đồng, trong đó gần 105 nghìn tỷ đồng từ vốn ngân sách trung ương. Đây là sự đổi mới rất quan trọng, khắc phục tình trạng thiếu bình đẳng về đầu tư, đảm bảo ưu tiên nguồn lực ngân sách để tập trung đầu tư, hỗ trợ những nơi khó khăn hơn, nhằm tạo chuyển biến trong thực hiện chính sách hỗ trợ đồng bộ hạ tầng kinh tế-xã hội xã, thôn, bản trong vùng.
Kết thúc giai đoạn 2021-2025, trong 9 nhóm mục tiêu cụ thể được Quốc hội giao, có 06 nhóm mục tiêu cơ bản đạt và vượt mục tiêu đề ra, gồm:
(1) Tỷ lệ giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt bình quân 3,4%, cả giai đoạn đạt 3,2% (đạt so với mức trên 3% mục tiêu kế hoạch giao).
(2) Thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số đạt 45,9 triệu đồng, tăng 3,3 lần so năm 2020 (mục tiêu tăng trên 2 lần).
(3) Nhóm mục tiêu về công tác giáo dục.
(4) Nhóm mục tiêu lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số và đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt 57,8% (mục tiêu >50%).
(5) Nhóm mục tiêu về Bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.
(6) Nhóm mục tiêu tăng cường công tác y tế để đồng bào DTTS được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại, tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
03 nhóm mục tiêu chưa đạt, gồm: (1) Cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn (khu vực III) và thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. (2) Số xã, thôn ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn. (3) Công tác định canh, định cư, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho đồng bào. Trong đó có 02 nhóm mục tiêu gặp nhiều khó khăn, thách thức, gồm: (i) Cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn (khu vực III) và thôn đặc biệt khó khăn; (ii) Công tác định canh, định cư, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho đồng bào. Đây là những nhóm mục tiêu đòi hỏi mức độ tập trung và thời gian thực hiện dài hơn so với nhiều nội dung nhiệm vụ khác, do hoạt động đầu tư hạ tầng, ổn định dân cư triển khai trên địa bàn có những thách thức, khó khăn điển hình, gây trở ngại lớn trong việc thực hiện các dự án hạ tầng.
2. Những vấn đề cấp bách cần giải quyết trong gia đoạn 2026-2030
Sau tổng kết 03 Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG): Xây dựng nông thôn mới, Giảm nghèo bền vững, Chương trình 1719 giai đoạn 2021-2025, ngày 11/12/2025, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 257/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035. Ngày 31/01/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 417/QĐ-BNNMT phê duyệt Chương trình giai đoạn 2026- 2035, giai đoạn I: 2026-2030 (Chương trình mới). Trong Chương trình mới có Hợp phần thứ hai: Các nội dung đặc thù phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (gồm 05 nội dung thành phần và 23 nội dung cụ thể).
Sự tích hợp này nhằm đưa Chương trình mới trở thành cầu nối chính sách và công cụ điều phối phát triển nông thôn - giảm nghèo - phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong tổng thể quy hoạch quốc gia.
Chương trình mới gồm những nội dung cụ thể, bao quát theo hướng đa lĩnh vực, liên ngành thay cho cách tiếp cận theo dự án - tiểu dự án trước đây của 3 chương trình đơn lẻ, nhằm tăng cường phối hợp, tránh chồng chéo, sử dụng hiệu quả nguồn lực, bảo đảm tính liên kết vùng, liên ngành trong thực hiện mục tiêu phát triển nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên phạm vi toàn quốc, tạo chuyển biến thực chất ở khu vực nông thôn, miền núi và tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách:
(1) Xử lý căn cơ các tồn tại, hạn chế trong tổ chức thực hiện 03 Chương trình MTQG giai đoạn 2021-2025 như: cơ chế quản lý, điều hành còn phân tán; một số nội dung, nhiệm vụ chồng chéo, dàn trải; tiến độ giải ngân, nhất là vốn sự nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu…
(2) Áp lực đạt các mục tiêu đến năm 2030 đã được phê duyệt tại Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội.
(3) Khoảng cách phát triển và mức sống giữa các vùng, miền còn lớn. Nhiều địa phương đồng bằng đã đạt và nâng cao chuẩn nông thôn mới nhưng vùng trung du, miền núi, biên giới vẫn còn nhiều xã có mức đạt tiêu chí thấp; kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ; tỷ lệ hộ nghèo cao; khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản còn hạn chế. Nếu tiếp tục triển khai các chương trình riêng lẻ sẽ không đủ khả năng xử lý đồng thời các vấn đề về hạ tầng, sinh kế và dịch vụ xã hội tại các địa bàn khó khăn nhất.
(4) Giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao. Giảm nghèo thời gian qua phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ trực tiếp; sinh kế của người nghèo chưa ổn định; khả năng tự vươn lên còn hạn chế, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đặt ra yêu cầu phải đổi mới cách tiếp cận trong giai đoạn 2026-2030 theo hướng giảm nghèo thực chất, bền vững, gắn chặt với tạo sinh kế, việc làm và nâng cao năng lực của người dân, hạn chế tái nghèo.
3. Một số điểm mới trong Chương trình mới
(1) Về quan điểm: Chương trình mới tiếp tục ưu tiên đầu tư cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phấn đấu đến năm 2030, tăng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 bình quân chung của cả nước; giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều trong vùng xuống dưới 10%; cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; hằng năm, thu hút 3% lao động nông thôn trong vùng sang làm các ngành, nghề: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ; 40% trở lên lao động dân tộc thiểu số biết làm các ngành, nghề: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ; 80% số hộ nông dân người dân tộc thiểu số làm kinh tế nông lâm nghiệp hàng hóa; trên 85% số xã, thôn có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu bảo đảm đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH và đời sống của người dân…
(2) Tiếp tục ưu tiên giải quyết cơ bản một số vấn đề bức thiết, quan trọng trong vùng, như: (1) Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư ở những nơi cần thiết; (2) Bảo đảm đủ hạ tầng thiết yếu, đặc biệt là cơ sở vật chất của các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực dân tộc, cơ sở vật chất của hệ thống cơ sở giáo dục và đào tạo đạt chuẩn để đáp ứng mục tiêu dạy và học 2 buổi/ngày…
(3) Phát triển toàn diện vùng bằng việc mở rộng cách tiếp cận theo hướng phát triển kinh tế gắn với nông thôn mới, kinh tế xanh, kinh tế văn hóa... Chuyển dịch này phản ánh sự thay đổi trong tư duy xây dựng chính sách, từ “hỗ trợ vùng khó khăn” sang “kiến tạo không gian phát triển đặc thù”, từ “giảm nghèo đơn thuần” sang phát huy năng lực nội sinh dựa trên tiềm năng thế mạnh của vùng. Nhiều nội dung thành phần trong Chương trình mới tập trung trực tiếp vào phát triển sản xuất hàng hóa, sản phẩm OCOP, du lịch cộng đồng, dược liệu; phát triển loại hình hợp tác xã, kinh tế tập thể, liên kết chuỗi giá trị; nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm… nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang được nhìn nhận như một không gian kinh tế có tiềm năng đặc thù, không đơn thuần là địa bàn cần hỗ trợ xã hội. Đây là thay đổi quan trọng, bởi cách tiếp cận hỗ trợ tuy giúp giải quyết khó khăn trước mắt nhưng chưa tạo được năng lực tự phát triển lâu dài cho cộng đồng. Khi chính sách chuyển sang hướng phát huy năng lực nội sinh, người dân sẽ được hỗ trợ để có khả năng tự phát triển bằng chính lợi thế của mình.
(4) Văn hóa được nhìn nhận như nguồn lực phát triển. Các nội dung liên quan đến bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với phát triển du lịch, sản phẩm OCOP và sinh kế cộng đồng, phản ánh sự thay đổi lớn về tư duy quản lý. Hiện nay, văn hóa không chỉ là giá trị tinh thần mà còn trở thành sinh kế, tạo thu nhập cho đồng bào. Những yếu tố như: nghề thủ công truyền thống, ẩm thực, lễ hội, không gian văn hóa, kiến trúc truyền thống, nghệ thuật dân gian, tri thức tộc người, dược liệu địa phương… đang được tích hợp vào chuỗi giá trị du lịch và kinh tế nông thôn.
(5) Tư duy phát triển xanh và bền vững rõ nét. Nhiều nội dung liên quan đến nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn, bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên, giảm phát thải, thích ứng biến đổi khí hậu… được đặt ra, phản ánh nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về vai trò chiến lược của vùng đối với an ninh sinh thái quốc gia, tránh xu hướng tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
(6) Đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ phục vụ đời sống, phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ tiếp cận thông tin khoa học công nghệ và quảng bá sản phẩm; được nâng cao năng lực, nhận thức về chuyển đổi số để ứng dụng vào cuộc sống và sản xuất…
(7) Về bố cục, Hợp phần 2 trong Chương trình mới được thiết kế ngắn gọn, cụ thể, dễ hiểu, dễ làm, dễ kiểm tra, tập trung vào 5 nội dung thành phần: Đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng đặc thù; Hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân; Phát triển nguồn nhân lực; Chính sách đặc thù ưu tiên hỗ trợ, phát triển các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù; Công tác truyền thông, tuyên truyền; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
(8) Nguyên tắc phân bổ ngân sách là đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả, bền vững; ưu tiên phân bổ ngân sách trung ương ở mức cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới. Ngân sách trung ương chỉ hỗ trợ các địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương, ưu tiên các địa phương nhận bổ sung cân đối từ 70% trở lên. Các địa phương tự cân đối ngân sách có trách nhiệm bố trí nguồn vốn ngân sách địa phương để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình.
4. Kết luận
Giai đoạn 2021-2025, chính sách dân tộc của Việt Nam đã có bước chuyển quan trọng về tư duy phát triển và phương thức quản trị. Giai đoạn 2026-2030, chính sách dân tộc tiếp tục được đổi mới theo hướng đẩy mạnh phát triển năng lực nội sinh, thúc đẩy kinh tế văn hóa, kinh tế xanh… để tiến gần hơn tới mô hình phát triển bền vững. Tư duy này phù hợp với mục tiêu phấn đấu đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao. Do đó chính sách dân tộc được chuyển hướng từ “giải quyết khó khăn” sang “khai mở tiềm năng” để đưa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trở thành cực tăng trưởng mới của quốc gia.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025), Báo cáo nghiên cứu khả thi Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030.
2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Quyết định số 417/QĐ-BNNMT về Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026–2030.
3. Chính phủ (2025), Báo cáo số 901/BC-CP ngày 10/10/2025 tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2030, giai đoạn I: từ năm 2021- 2025.
4. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1719/QĐTTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021- 2025.
5. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 257/2025/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.