Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trên nền tảng số

ThS. Hoàng Đức Thành* - 18:53, 25/06/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế du lịch bền vững, xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng trên nền tảng số đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Với lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, bản sắc văn hóa đa dạng của hơn 30 dân tộc thiểu số cùng hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, khu vực này có tiềm năng lớn để phát triển du lịch cộng đồng gắn với kinh tế số. Bài viết tập trung phân tích thực trạng xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng trên môi trường số; đánh giá những cơ hội, thách thức trong hoạt động quảng bá, định vị hình ảnh điểm đến và kết nối thị trường du lịch. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số định hướng, giải pháp phát triển thương hiệu số dựa trên nền tảng công nghệ, dữ liệu số và truyền thông số nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng giá trị văn hóa, tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong giai đoạn hiện nay.

Xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trên nền tảng số là xu hướng tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay
Xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trên nền tảng số là xu hướng tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay

Từ khóa: Du lịch cộng đồng; Thương hiệu số; Dân tộc thiểu số; Miền núi phía Bắc; Chuyển đổi số; Phát triển bền vững.

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, du lịch cộng đồng đã trở thành một trong những mô hình phát triển kinh tế quan trọng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, góp phần khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống, tạo sinh kế cho người dân và thúc đẩy phát triển bền vững. Với hơn 30 dân tộc thiểu số sinh sống, khu vực miền núi phía Bắc sở hữu nguồn tài nguyên du lịch đặc sắc gồm hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, các lễ hội truyền thống, nghề thủ công, tri thức địa phương với cảnh quan thiên nhiên độc đáo. Nhiều điểm đến như Sa Pa (tỉnh Lào Cai), Đồng Văn (tỉnh Tuyên Quang), Mộc Châu (tỉnh Sơn La), Ba Bể (tỉnh Thái Nguyên),… đã trở thành những thương hiệu du lịch nổi bật, thu hút hàng triệu lượt khách mỗi năm.

Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ giữa các điểm đến du lịch, việc xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng không thể chỉ dựa vào các phương thức quảng bá truyền thống. Sự phát triển của internet, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng du lịch trực tuyến đang làm thay đổi hành vi tìm kiếm thông tin, lựa chọn và trải nghiệm du lịch của du khách. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng trên nền tảng số nhằm nâng cao khả năng nhận diện, mở rộng thị trường và gia tăng sức cạnh tranh cho các điểm đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Mặc dù, nhiều địa phương đã bước đầu ứng dụng công nghệ số trong quảng bá du lịch, song việc xây dựng thương hiệu số vẫn còn thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu chiến lược dài hạn và chưa khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa đặc trưng của cộng đồng dân tộc thiểu số. Vì vậy, nghiên cứu xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trên nền tảng số có ý nghĩa quan trọng và cần thiết, góp phần phát huy nguồn lực văn hóa địa phương, nâng cao giá trị kinh tế du lịch và thúc đẩy phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số hiện nay.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Giá trị của xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng trên nền tảng số

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng trên nền tảng số không chỉ là hoạt động quảng bá điểm đến mà còn là giải pháp chiến lược nhằm phát huy nguồn lực văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, như:

Thứ nhất, thương hiệu số góp phần gia tăng khả năng nhận diện và mở rộng thị trường du lịch. Khác với các phương thức quảng bá truyền thống bị giới hạn về không gian và thời gian, các nền tảng số, như: website, Facebook, TikTok, YouTube, Instagram, Google Travel hay các ứng dụng du lịch thông minh cho phép hình ảnh điểm đến được lan tỏa rộng rãi trên phạm vi toàn cầu. Thông qua các video trải nghiệm, bản đồ số, công nghệ thực tế ảo và các chiến dịch truyền thông số, nhiều điểm du lịch cộng đồng, như: Lô Lô Chải (tỉnh Tuyên Quang), Tả Van (tỉnh Lào Cai), bản Áng (tỉnh Sơn La)… đã thu hút lượng lớn du khách trong nước và quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của du lịch cộng đồng miền núi phía Bắc trên bản đồ du lịch Việt Nam.

Thứ hai, xây dựng thương hiệu số tạo điều kiện chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế. Bản sắc văn hóa của các dân tộc Mông, Dao, Tày, Nùng, Thái, Hà Nhì, Lô Lô,… được số hóa và quảng bá thông qua các câu chuyện văn hóa, lễ hội truyền thống, nghề thủ công, ẩm thực và tri thức bản địa. Quá trình này không chỉ làm gia tăng giá trị sản phẩm du lịch mà còn góp phần phát triển kinh tế văn hóa, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương.

Thứ ba, thương hiệu du lịch cộng đồng trên nền tảng số còn đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc. Khi các giá trị văn hóa được ghi chép, số hóa và lan tỏa trên môi trường số, khả năng bảo tồn và truyền dạy cho thế hệ trẻ được nâng cao. Đồng thời, việc quảng bá văn hóa trên không gian mạng giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của di sản, tạo động lực để người dân tham gia gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống.

Thứ tư, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào quá trình phát triển du lịch. Các nền tảng số cho phép người dân địa phương trực tiếp quảng bá homestay, sản phẩm thủ công, dịch vụ trải nghiệm và đặc sản địa phương đến du khách mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào các doanh nghiệp trung gian. Điều này góp phần nâng cao quyền chủ động của cộng đồng, gia tăng lợi ích kinh tế và bảo đảm tính bền vững của mô hình du lịch cộng đồng.

Xét ở góc độ khoa học, phát triển lâu dài, bền vững, xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng trên nền tảng số chính là quá trình kết nối giữa văn hóa truyền thống với công nghệ hiện đại. Đây không chỉ là công cụ nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến mà còn là giải pháp quan trọng để phát huy nguồn lực nội sinh, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế sáng tạo và bảo tồn văn hóa bền vững tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong thời đại số.

2.2. Thực trạng xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trên nền tảng số

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chuyển đổi số quốc gia, hoạt động xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng trên nền tảng số tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đã có những bước chuyển biến đáng kể. Nhiều địa phương đã từng bước ứng dụng công nghệ số trong quảng bá điểm đến, kết nối thị trường và nâng cao trải nghiệm du khách, góp phần đưa du lịch cộng đồng trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của địa phương.

Thực tế cho thấy, các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Cao Bằng, Thái Nguyên, Phú Thọ,… đang là những địa phương đi đầu trong việc số hóa hoạt động quảng bá du lịch cộng đồng. Tại tỉnh Tuyên Quang, làng văn hóa du lịch cộng đồng Lô Lô Chải (xã Đồng Văn) đã xây dựng hình ảnh điểm đến thông qua các website du lịch, nền tảng đặt phòng trực tuyến, video trải nghiệm và mạng xã hội. Các hình ảnh về kiến trúc nhà trình tường, văn hóa dân tộc Lô Lô, lễ hội truyền thống và cảnh quan Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn được lan tỏa mạnh mẽ trên không gian số, góp phần đưa Tuyên Quang trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn nhất khu vực miền núi phía Bắc.

Tại tỉnh Lào Cai, các điểm du lịch cộng đồng ở Tả Van, Lao Chải, Tả Phìn và Y Tý,… đã ứng dụng nền tảng số để quảng bá homestay, sản phẩm du lịch trải nghiệm và văn hóa dân tộc Mông, Dao, Hà Nhì. Nhiều cơ sở lưu trú đã triển khai đặt phòng trực tuyến thông qua Booking.com, Agoda, Traveloka và các nền tảng mạng xã hội. Điều này giúp mở rộng thị trường khách quốc tế, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của các điểm du lịch cộng đồng.

Ở tỉnh Sơn La, mô hình du lịch cộng đồng bản Áng (phường Mộc Châu) và bản Hua Tạt (xã Vân Hồ) đã bước đầu xây dựng thương hiệu số thông qua hệ thống fanpage, video quảng bá và các sản phẩm truyền thông số. Nhiều lễ hội truyền thống, nghề thủ công, văn hóa ẩm thực dân tộc Thái và Mông được giới thiệu trên nền tảng trực tuyến, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách trẻ.

Bên cạnh những kết quả tích cực, thực trạng xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng trên nền tảng số vẫn còn nhiều hạn chế, như: (1) Hoạt động xây dựng thương hiệu tại nhiều địa phương còn mang tính tự phát, thiếu chiến lược dài hạn và chưa có bộ nhận diện thương hiệu thống nhất. Phần lớn các sản phẩm truyền thông mới dừng lại ở việc giới thiệu cảnh quan và dịch vụ du lịch mà chưa khai thác sâu các giá trị văn hóa đặc trưng để tạo sự khác biệt cho điểm đến. (2) Năng lực ứng dụng công nghệ số của cộng đồng địa phương còn hạn chế. Nhiều hộ làm du lịch cộng đồng chưa được đào tạo bài bản về marketing số, quản trị thương hiệu, thương mại điện tử và quản lý dữ liệu khách hàng. Hạ tầng số tại một số khu vực vùng sâu, vùng xa vẫn chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến khả năng kết nối và quảng bá trực tuyến. (3) Sự liên kết giữa các địa phương trong xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng vùng còn chưa chặt chẽ. Hiện nay, phần lớn các điểm đến đang phát triển theo hướng riêng lẻ, thiếu sự kết nối thành chuỗi sản phẩm du lịch cộng đồng mang tính vùng miền. Điều này làm giảm hiệu quả quảng bá và khả năng cạnh tranh trên thị trường du lịch số.

Có thể nói, quá trình xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trên nền tảng số đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, góp phần nâng cao hình ảnh điểm đến và tạo động lực phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, để thương hiệu du lịch cộng đồng thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh bền vững, cần tiếp tục đầu tư đồng bộ về hạ tầng số, nguồn nhân lực số, chiến lược truyền thông và cơ chế liên kết vùng trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

2.3. Định hướng và giải pháp đối với xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trên nền tảng số

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ giữa các điểm đến du lịch, việc xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc cần được định hướng và giải pháp theo hướng hiện đại, khác biệt, bền vững và dựa trên nền tảng công nghệ số.

(i) Cần xây dựng chiến lược thương hiệu số thống nhất cho du lịch cộng đồng miền núi phía Bắc, lấy bản sắc văn hóa dân tộc làm giá trị cốt lõi. Mỗi điểm đến cần xác định rõ các yếu tố nhận diện đặc trưng như văn hóa truyền thống, tri thức địa phương, nghề thủ công, ẩm thực và cảnh quan sinh thái để tạo dấu ấn riêng trên môi trường số. Đồng thời, hình thành bộ nhận diện thương hiệu chung cho các tuyến du lịch cộng đồng liên vùng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và sức lan tỏa.

(ii) Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động quảng bá và quản trị du lịch. Các địa phương cần xây dựng cơ sở dữ liệu số về tài nguyên du lịch cộng đồng; phát triển website đa ngôn ngữ, bản đồ số, hệ thống đặt dịch vụ trực tuyến, ứng dụng du lịch thông minh và các nền tảng truyền thông số. Việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn sẽ góp phần nâng cao trải nghiệm du khách và hiệu quả truyền thông thương hiệu.

(iii) Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực số cho cộng đồng địa phương. Cần tăng cường bồi dưỡng kỹ năng marketing số, quản trị thương hiệu, thương mại điện tử và sản xuất nội dung số cho các hộ làm du lịch cộng đồng, thanh niên và hợp tác xã du lịch. Đây là yếu tố quyết định tính bền vững của quá trình chuyển đổi số trong du lịch.

(iv) Cần tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng dân cư nhằm hình thành hệ sinh thái du lịch số đồng bộ. Đồng thời, bảo đảm hài hòa giữa khai thác du lịch và bảo tồn văn hóa truyền thống, tránh thương mại hóa các giá trị văn hóa dân tộc. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng miền núi phía Bắc có sức cạnh tranh cao, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và phát huy hiệu quả nguồn lực văn hóa trong thời đại số.

3. Thảo luận

Việc xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trên nền tảng số không chỉ là xu hướng tất yếu của ngành du lịch hiện đại mà còn là giải pháp quan trọng để phát huy nguồn lực văn hóa bản địa trong phát triển kinh tế bền vững. Thực tiễn tại các tỉnh như: Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Cao Bằng,… cho thấy những điểm đến biết khai thác hiệu quả công nghệ số thường có khả năng tiếp cận thị trường rộng hơn, nâng cao mức độ nhận diện thương hiệu và gia tăng sức hấp dẫn đối với du khách trong nước cũng như quốc tế. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hiệu quả của thương hiệu du lịch cộng đồng không phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ mà trước hết được quyết định bởi giá trị văn hóa cốt lõi của cộng đồng địa phương. Công nghệ số chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được sử dụng như một công cụ để kể câu chuyện văn hóa, lan tỏa bản sắc dân tộc và tạo ra những trải nghiệm du lịch chân thực. Điều này cho thấy quá trình xây dựng thương hiệu cần đặt văn hóa địa phương ở vị trí trung tâm thay vì chỉ tập trung vào các hoạt động quảng bá đơn thuần.

Đặc biệt là sự chênh lệch về năng lực số giữa các địa phương đang tạo ra khoảng cách trong phát triển thương hiệu du lịch cộng đồng. Trong khi một số điểm đến đã xây dựng được hệ sinh thái truyền thông số tương đối hoàn chỉnh thì nhiều địa bàn vùng sâu, vùng xa vẫn gặp khó khăn về hạ tầng công nghệ, nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính.

Dựa trên cơ sở khoa học, phát triển bền vững, nghiên cứu khẳng định rằng thương hiệu du lịch cộng đồng trên nền tảng số cần được xây dựng trên cơ sở hài hòa giữa bảo tồn văn hóa, phát triển sinh kế và ứng dụng công nghệ hiện đại. Sự kết hợp giữa tri thức địa phương, sự tham gia chủ động của cộng đồng và chuyển đổi số sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh khác biệt cho du lịch cộng đồng miền núi phía Bắc, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh các dân tộc thiểu số Việt Nam trong không gian số toàn cầu.

4. Kết luận

Xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trên nền tảng số là xu hướng tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay. Nghiên cứu cho thấy việc kết hợp giữa công nghệ số với các giá trị văn hóa địa phương không chỉ góp phần nâng cao khả năng nhận diện điểm đến, mở rộng thị trường du lịch mà còn tạo động lực bảo tồn di sản văn hóa và phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, quá trình xây dựng thương hiệu số vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức về hạ tầng công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực số, năng lực quản trị thương hiệu và nguy cơ thương mại hóa văn hóa. Vì vậy, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về chuyển đổi số, đào tạo nhân lực, liên kết vùng và bảo tồn văn hóa nhằm xây dựng thương hiệu du lịch cộng đồng đặc trưng, có sức cạnh tranh cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong giai đoạn mới .

*Học viện Quốc phòng, Bộ Quốc phòng

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Ngọc Bích (2024), Truyền thông, kích cầu du lịch trên các nền tảng số, https://chinhsachcuocsong. vnanet.vn/truyen-thong-kich-cau-du-lich-tren-cacnen-tang-so/44495.html.

3. OECD (2022), Tourism Trends and Policies, Paris.

4. OECD (2023), Digital Economy Outlook, Paris.

5. PV (2025), Du lịch Tuyên Quang ước đón 3,9 triệu lượt khách trong năm 2025, https://vietnamtourism. gov.vn/post/66008

6. Võ Quế (2006), Du lịch cộng đồng - Lý thuyết và vận dụng (tập 1), Nxb. Khoa học và kỹ thuât, Hà Nội.

7. Lý Liệt Thanh (2025), Tăng cường quảng bá du lịch Việt Nam trên các nền tảng số, https://kinhtevadubao.vn/tang-cuong-quang-ba-du-lich-viet-nam-tren-cacnen-tang-so-31049.html

8. Ngô Tân (2026), Lào Cai đón hơn 10 triệu lượt khách du lịch nhờ đâu? https://thanhtra.com.vn/du-lich-E19590D86/lao-cai-don-hon-10-trieu-luotkhach-du-lich-nho-dau-fd5a15831.html

9. UNESCO (2023), Digital Technologies and Cultural Heritage, Paris

10. UNWTO (2023), Digital Transformation in Tourism Destinations, Madrid.

11. Hoàng Đức Thành, (2025), Gắn phát triển du lịch với bảo tồn phát huy giá trị văn hoá truyền thống ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo, số 1 (Tháng 9/2025)