Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Bảo tồn và gìn giữ văn hóa dân tộc thiểu số gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số hiện nay

TS. Lò Giàng Páo* ThS. Nguyễn Duy Dũng** - 09:29, 08/10/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò, thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc thiểu số gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở tiếp cận giữa nghiên cứu văn hóa, di sản, chuyển đổi số và phát triển cộng đồng, nghiên cứu làm rõ vai trò của số hóa trong tư liệu hóa, lưu trữ, trao truyền, quảng bá và phát huy giá trị văn hóa. Kết quả cho thấy, chuyển đổi số mở rộng không gian bảo tồn, nhưng còn hạn chế về dữ liệu, hạ tầng, nhân lực, quyền văn hóa và năng lực số của cộng đồng. Từ đó, tác giả đề xuất xây dựng hệ sinh thái văn hóa số lấy cộng đồng làm chủ thể, bảo đảm bảo tồn, trao truyền, sáng tạo, phát huy bền vững…

Từ khóa: Văn hóa dân tộc thiểu số; Bảo tồn văn hóa; Di sản văn hóa; Chuyển đổi số; Số hóa di sản; Văn hóa số; Cộng đồng.

Hình ảnh tháp E7 thuộc nhóm tháp E khu đền tháp Mỹ Sơn được số hóa
Hình ảnh tháp E7 thuộc nhóm tháp E khu đền tháp Mỹ Sơn được số hóa

1. Đặt vấn đề

Việt Nam là quốc gia thống nhất, đa dân tộc (gồm 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14,7% dân số của cả nước), với hệ thống di sản văn hóa phong phú, trong đó văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số là bộ phận quan trọng tạo nên tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình hiện đại hóa, biến đổi sinh kế, giao lưu văn hóa và đứt gãy trao truyền giữa các thế hệ đang đặt nhiều giá trị văn hóa trước nguy cơ mai một. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số mở ra phương thức mới để tư liệu hóa, lưu trữ, truyền dạy, quảng bá và phát huy giá trị văn hóa. Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đặt mục tiêu đến năm 2030 ít nhất 80% di sản văn hóa phi vật thể vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được số hóa, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa số của cộng đồng.

Tuy nhiên, số hóa không đồng nghĩa với bảo tồn; dữ liệu số chỉ thực sự có ý nghĩa khi góp phần duy trì thực hành, trao truyền và sức sống của văn hóa trong cộng đồng. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào kết hợp hiệu quả bảo tồn, số hóa, trao truyền, phát huy, đồng thời bảo đảm quyền văn hóa và vai trò chủ thể của cộng đồng dân tộc thiểu số. Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận, thực trạng, những vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp nhằm xây dựng hệ sinh thái văn hóa số bền vững, lấy cộng đồng làm trung tâm.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Vai trò của chuyển đổi số đối với bảo tồn và gìn giữ văn hóa dân tộc thiểu số

Chuyển đổi số đang tạo ra phương thức mới trong bảo tồn và gìn giữ văn hóa dân tộc thiểu số, không chỉ thông qua số hóa tư liệu, đồng thời còn làm thay đổi cách lưu giữ, trao truyền, thực hành và phát huy các giá trị văn hóa.

(i) Chuyển đổi số góp phần tư liệu hóa và lưu giữ ký ức văn hóa thông qua ghi âm, ghi hình, ảnh số, dữ liệu văn bản, bản đồ số và mô hình 3D, qua đó hạn chế nguy cơ thất truyền đối với những di sản văn hoá có số lượng chủ thể thực hành ngày càng giảm.

(ii) Công nghệ số mở rộng không gian trao truyền liên thế hệ. Những làn điệu dân ca, tiếng nói, chữ viết, nghi lễ, nghề thủ công và tri thức địa phương có thể được xây dựng thành học liệu số, thư viện số, kho dữ liệu cộng đồng, giúp thế hệ trẻ tiếp cận văn hóa bằng những phương thức phù hợp với môi trường sống hiện đại. Đây là bước chuyển từ bảo tồn trong không gian vật lý sang kết hợp bảo tồn trong không gian thực và không gian số.

(iii) Chuyển đổi số góp phần mở rộng khả năng tiếp cận và phát huy giá trị di sản thông qua nền tảng số, bảo tàng trực tuyến, truyền thông đa phương tiện và các sản phẩm trải nghiệm số. Qua đó, di sản văn hoá có thể tiếp cận công chúng rộng hơn và trở thành nguồn lực cho giáo dục, nghiên cứu, du lịch văn hóa và công nghiệp văn hóa. Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045 (theo Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”) cũng định hướng phát triển hệ sinh thái văn hóa số, đưa tài nguyên văn hóa vào quá trình chia sẻ và khai thác hiệu quả.

Đặc biệt, chuyển đổi số có thể tăng cường vai trò chủ thể của cộng đồng nếu người dân được tham gia kiểm kê, cung cấp, quản trị và khai thác dữ liệu văn hóa. Vì vậy, giá trị của chuyển đổi số không nên đo bằng số lượng tư liệu được số hóa, mà bằng khả năng dữ liệu số quay trở lại phục vụ trao truyền, thực hành và tái tạo văn hóa. Đây chính là điều kiện để chuyển đổi số trở thành động lực bảo tồn bền vững thay vì chỉ tạo ra một kho lưu trữ số về văn hóa dân tộc thiểu số.

2.2. Bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số gắn với chuyển đổi số

Những năm gần đây, bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số gắn với chuyển đổi số đã chuyển từ định hướng thử nghiệm sang một nhiệm vụ có cơ sở chính sách ngày càng rõ. Việc số hóa tư liệu, hình ảnh, âm thanh, hiện vật, lễ hội, nghệ thuật trình diễn, tri thức dân gian và nghề truyền thống bước đầu tạo lập nguồn dữ liệu phục vụ lưu trữ, nghiên cứu, giáo dục và quảng bá. Thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số theo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, theo thống kê đã có 27/53 dân tộc thiểu số có bộ chữ viết riêng được bảo tồn, truyền dạy trong cộng đồng. Một số ngôn ngữ được sử dụng trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các đài phát thanh và truyền hình địa phương như Khmer, Ê-đê, Gia-rai, Ba na, Chăm, Mông, Thái, Xơ-Đăng, Tày, Hà Nhì, Cơ-tu... Một số ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã được sử dụng để in các tác phẩm văn nghệ truyền thống, các sáng tác mới...

Bên cạnh đó, việc tổ chức thực hiện chính sách dạy, học ngôn ngữ dân tộc thiểu số cũng đã được triển khai ở các trường phổ thông và bổ túc văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong cả nước… Nhiều địa phương đã khảo sát, thống kê, sưu tầm tiếng nói, chữ viết, thư tịch cổ của các dân tộc; biên soạn, xuất bản sách theo tiếng dân tộc. Chẳng hạn như, thời gian qua, nhờ hoạt động bảo tổn văn hóa dân tộc thiểu số được triển khai sâu rộng mà các tỉnh Tây Nguyên đã phát hiện và bảo tồn được nhiều sử thi đang tồn tại trong cộng đồng hoặc thất lạc. Trong đó, tỉnh Đắk Lắk đã phát hiện được một số khối lượng sử thi lớn nhất nước ta, bao gồm 300 danh mục sử thi của dân tộc Mnông, Ê-đê, đã sưu tầm được 70 sử thi, dịch thành văn bản (song ngữ Việt - Ê-đê và Mnông - Việt), 40 sử thi (trong đó có 7 sử thi Ê-đê, 33 sử thi Mnông). Ngoài ra, ngành văn hóa Đắk Lắk còn sưu tầm được trên 1.000 trang truyện cổ Ê-đê, 3.000 trang truyện cổ Mnông, 1.000 trang lời nói vần Mnông, 1 bộ luật tục Ê-đê- Mnông…

Hoạt động kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền di sản văn hóa truyền thống điển hình của các dân tộc thiểu số Việt Nam được triển khai thông qua việc đẩy mạnh chuyển đổi số… Theo đó, các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng được quan tâm lập hồ sơ khoa học và xếp hạng cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt. Việt Nam đã có nhiều di sản được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, như: “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2008); “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2019); “Nghệ thuật Xòe Thái” được ghi nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2021),… Nhiều lễ hội truyền thống, trang phục dân tộc, ẩm thực của các dân tộc thiểu số được bảo tồn, phát huy hiệu quả.

Đặc biệt là Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo dựng “không gian mới, xung lực mới” cho phát triển văn hóa; đồng thời yêu cầu chuẩn hóa, số hóa toàn diện di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, phát triển hạ tầng dữ liệu văn hóa, nội dung số, bảo tàng mở và thư viện số. Nghị quyết đặt mục tiêu hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026, đồng thời yêu cầu bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận và thụ hưởng văn hóa, trong đó chú trọng bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số.

Thực tiễn cho thấy, chuyển đổi số đang tạo ra ba chuyển biến quan trọng: (i) Từ bảo tồn phân tán sang tư liệu hóa và quản trị dữ liệu có hệ thống. (ii) Từ lưu giữ tĩnh sang mở rộng khả năng trao truyền và giáo dục di sản thông qua thư viện số, nền tảng trực tuyến, dữ liệu đa phương tiện. (iii) Từ bảo tồn khép kín sang phát huy di sản trong không gian số, tạo điều kiện kết nối di sản với du lịch văn hóa, ng hiên cứu, giáo dục và công nghiệp văn hóa. Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” còn đặt mục tiêu đến năm 2030 có 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung, 80% di sản văn hóa số công có mã định danh số để xác lập quyền sở hữu và kiểm soát khai thác.

Tuy nhiên, thực trạng cũng cho thấy số hóa chưa đồng nghĩa với bảo tồn bền vững. Nhiều dữ liệu còn phân tán, thiếu chuẩn liên thông; năng lực công nghệ và nhân lực số tại cơ sở chưa đồng đều; cộng đồng dân tộc thiểu số ở một số nơi vẫn chủ yếu là đối tượng cung cấp thông tin thay vì chủ thể quản trị dữ liệu. Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam thừa nhận một số di sản vật thể, phi vật thể còn xuống cấp, mai một; đồng thời yêu cầu xử lý hài hòa quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, đời sống thực và không gian số, dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số.

Bên cạnh đó, một vấn đề quan trọng khác là nguy cơ “số hóa hình thức”, đó là dữ liệu được tạo lập nhưng chưa được chuyển hóa thành học liệu, công cụ trao truyền hoặc nguồn lực phục vụ cộng đồng. Đối với di sản phi vật thể, một video ghi lại dân ca, nghi lễ hay nghề truyền thống chỉ có giá trị tư liệu; nó không thể thay thế quá trình nghệ nhân truyền dạy và cộng đồng tiếp tục thực hành. Vì vậy, mục tiêu cao hơn của chuyển đổi số phải là đưa dữ liệu trở lại đời sống văn hóa, hỗ trợ thế hệ trẻ học tập, nghệ nhân trao truyền và cộng đồng chủ động giới thiệu, quản lý, khai thác giá trị di sản.

Tóm lại, Việt Nam đã hình thành nền tảng chính sách, công nghệ và dữ liệu quan trọng cho bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số trong môi trường số. Tuy nhiên, khoảng cách giữa số hóa để lưu giữ và số hóa để bảo tồn, trao truyền, thực hành và phát huy vẫn còn đáng kể. Do đó, giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ tư duy xây dựng kho dữ liệu sang kiến tạo hệ sinh thái văn hóa số lấy cộng đồng làm chủ thể, trong đó dữ liệu, công nghệ và trí tuệ nhân tạo phục vụ trực tiếp cho bảo tồn sức sống văn hóa, thu hẹp khoảng cách thụ hưởng và tạo điều kiện để các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số tiếp tục được tái tạo trong đời sống đương đại.

2.3. Giải pháp bảo tồn và gìn giữ văn hóa dân tộc thiểu số gắn với chuyển đổi số

Để bảo tồn và gìn giữ văn hóa dân tộc thiểu số gắn với chuyển đổi số một cách thực chất, cần chuyển từ tư duy số hóa để lưu giữ sang số hóa để trao truyền, thực hành và phát huy, trong đó cộng đồng là chủ thể, công nghệ là công cụ và dữ liệu là nguồn lực văn hóa.

Thứ nhất, xây dựng hệ thống dữ liệu văn hóa dân tộc thiểu số thống nhất, liên thông và chuẩn hóa. Các địa phương cần ưu tiên số hóa có hệ thống tiếng nói, chữ viết, dân ca, dân vũ, nghi lễ, tri thức địa phương, nghề thủ công, lễ hội và ký ức cộng đồng; đồng thời xây dựng metadata, mã định danh và phân quyền khai thác phù hợp. Mục tiêu này cần gắn với Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, trong đó đặt mục tiêu 80% di sản văn hóa phi vật thể vùng đồng bào dân tộc thiểu số được số hóa vào năm 2030.

Thứ hai, lấy cộng đồng làm trung tâm của quản trị di sản số. Nghệ nhân, Người có uy tín, thanh niên và chủ thể văn hóa phải được tham gia từ kiểm kê, lựa chọn nội dung, ghi chép, xác thực đến quyết định phạm vi chia sẻ và khai thác dữ liệu. Cách tiếp cận này phù hợp với Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, xác định Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa.

Thứ ba, chuyển dữ liệu số thành công cụ trao truyền. Cần phát triển thư viện số cộng đồng, học liệu đa phương tiện, kho tiếng nói dân tộc, video hướng dẫn nghề truyền thống và nền tảng học tập có sự tham gia trực tiếp của nghệ nhân. Chỉ khi dữ liệu số quay trở lại đời sống, phục vụ giáo dục và thực hành, số hóa mới thực sự tạo ra sức sống mới cho di sản văn hóa.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực và năng lực số tại cơ sở. Đào tạo cán bộ văn hóa, giáo viên, nghệ nhân và thanh niên dân tộc thiểu số về ghi âm, ghi hình, lưu trữ, quản trị dữ liệu, truyền thông số và bảo vệ quyền văn hóa. Đồng thời, kết hợp trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, 3D, thực tế ảo và các nền tảng số để nâng cao hiệu quả tư liệu hóa, giáo dục và quảng bá, phù hợp định hướng ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong văn hóa của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Thứ năm, bảo đảm quyền văn hóa, bản quyền và chủ quyền dữ liệu. Cần thiết lập cơ chế đồng thuận của cộng đồng, phân tầng quyền truy cập đối với những dữ liệu nhạy cảm, xác định rõ quyền sử dụng và chia sẻ lợi ích khi di sản được khai thác trên môi trường số. Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, là cơ sở pháp lý quan trọng để tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh mới.

Thứ sáu, gắn bảo tồn số với giáo dục, du lịch văn hóa và sinh kế cộng đồng, nhưng phải kiểm soát nguy cơ thương mại hóa, giản lược hoặc diễn giải sai lệch bản sắc. Qua đó hình thành chuỗi “số hóa - trao truyền - thực hành - sáng tạo - phát huy - tái đầu tư bảo tồn”, đưa chuyển đổi số trở thành động lực duy trì sức sống văn hóa dân tộc thiểu số trong đời sống đương đại.

3. Kết luận

Bảo tồn và gìn giữ văn hóa dân tộc thiểu số gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên số. Chuyển đổi số không chỉ tạo phương thức mới để tư liệu hóa, lưu trữ, quảng bá và phát huy di sản, đồng thời còn mở rộng khả năng trao truyền, thực hành và sáng tạo văn hóa. Theo Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, chuyển đổi số phải gắn bảo tồn, phát huy và sáng tạo với phát triển hệ sinh thái văn hóa số, lấy người dân và cộng đồng sáng tạo làm trung tâm. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy số hóa để lưu giữ sang số hóa để văn hóa tiếp tục tồn tại theo thời gian, bảo đảm cộng đồng dân tộc thiểu số là chủ thể quản trị, thực hành và thụ hưởng. Đây là nền tảng để bảo tồn . bản sắc, thu hẹp khoảng cách số và phát triển văn hóa bền vững.

* Phó Chủ tịch Hội hỗ trợ phát triển kinh tế miền núi Việt Nam

** Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội.

2. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.

3. Quốc hội (2024), Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024, Hà Nội.

4. Quốc hội (2024), Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024, Hà Nội.