Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Tác động của các giá trị tôn giáo đối với đời sống xã hội vùng Nam Bộ

TS. Nguyễn Châu Giang - 09:47, 09/10/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Vùng đất Nam Bộ là một không gian văn hóa - địa chính trị đặc thù, nơi chứng kiến sự hội tụ, giao thoa và tiếp biến sâu sắc của nhiều dòng chảy tín ngưỡng, tôn giáo trong lịch sử và phát triển. Các giá trị tôn giáo không chỉ đóng vai trò là điểm tựa tinh thần giúp cư dân vượt qua thử thách thiên nhiên khắc nghiệt và biến động lịch sử, mà còn hình thành nên hệ giá trị nhân văn, tính cách hào sảng, trọng nghĩa khinh tài của con người Nam Bộ. Bài viết phân tích ảnh hưởng, tác động của các giá trị tôn giáo đối với đời sống xã hội Nam Bộ trên các phương diện: củng cố liên kết cộng đồng, chuẩn mực đạo đức và hành vi, cùng các đóng góp kinh tế - an sinh xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa - đạo đức tôn giáo phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững của vùng Nam Bộ.

Chùa Cò, Vĩnh Long
Chùa Cò, Vĩnh Long

Từ khóa: Giá trị tôn giáo; Đời sống xã hội; Nam Bộ; Tôn giáo nội sinh; Phát triển bền vững.

1. Diện mạo tôn giáo ở Nam Bộ

Diện mạo tôn giáo vùng Nam Bộ mang tính chất đa dạng, phong phú và độc đáo, được định hình bởi bối cảnh địa - văn hóa và tiến trình lịch sử mở mang bờ cõi của dân tộc. Nằm ở vùng đất cực Nam trù phú nhưng cũng đầy thử thách của thiên nhiên sông nước hoang sơ, Nam Bộ từ thế kỷ XVII đã trở thành chốn dừng chân và giao thoa văn hóa giữa các cộng đồng cư dân Việt, Khmer, Hoa, Chăm. Sự gặp gỡ này biến nơi đây thành một không gian tôn giáo mở, vừa tiếp nhận các dòng chảy tâm linh lớn trên thế giới, vừa là mảnh đất sinh ra nhiều tôn giáo độc nhất vô nhị.

Về các tôn giáo du nhập, Nam Bộ quy tụ hầu như đầy đủ các hệ thống tín ngưỡng lớn: Phật giáo gồm Phật giáo Bắc tông của người Việt, người Hoa và Phật giáo Nam tông giữ vai trò chi phối toàn bộ đời sống của người Khmer, Công giáo, Tin Lành, Islam. Đặc biệt, sự hiện diện của Phật giáo Nam tông Khmer và Islam Chăm đã tạo nên những sắc thái văn hóa tộc người đậm nét, vừa góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa riêng biệt, vừa làm phong phú thêm bức tranh toàn cảnh của vùng đất phương Nam.

Bên cạnh các tôn giáo ngoại sinh, diện mạo tôn giáo Nam Bộ trở nên khác biệt hoàn toàn so với các vùng miền khác trên cả nước nhờ sự xuất hiện của hệ thống các tôn giáo nội sinh vào giữa thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo. Các tôn giáo này kết tinh từ truyền thống Tam giáo đồng nguyên (Nho - Phật - Đạo) kết hợp với tín ngưỡng dân gian, mang đậm dấu ấn phong thổ Nam Bộ. Giáo lý của các tôn giáo nội sinh thường được đơn giản hóa, lược bỏ các nghi lễ rườm rà để hướng tới triết lý thực dụng, thiết thực: ‘Học Phật, tu Nhân”; “Tại gia cư sĩ” và đề cao đạo lý “Tứ trọng ân” (Ân Tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam bảo, Ân đồng bào và nhân loại).

Đặc trưng nổi bật nhất trong diện mạo tôn giáo Nam Bộ chính là tính hỗn dung văn hóa và tinh thần nhập thế tích cực. Ở Nam Bộ, không có sự xung đột hay bài xích tôn giáo gay gắt; người dân có thể đồng thời thờ Phật, cúng Bà Chúa Xứ, Quan Công hay các thần linh dân gian Nam Bộ một cách tự nhiên. Tôn giáo không khép kín trong chốn thiền môn hay nghi lễ xa rời thực tế, mà gắn liền trực tiếp với hoạt động khai hoang lập ấp, chữa bệnh cứu người, làm từ thiện an sinh xã hội và đồng hành cùng dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Tổng hòa các yếu tố này đã tạo nên một diện mạo tôn giáo Nam Bộ vừa đa sắc màu, cởi mở, vừa giàu tính nhân văn và gắn kết cộng đồng sâu sắc.

2. Chức năng cốt lõi và đặc trưng giá trị tôn giáo tại Nam Bộ

2.1. Chức năng cốt lõi

Thứ nhất, chức năng tích hợp xã hội thể hiện sức mạnh liên kết cộng đồng vượt qua rào cản tộc người và ngôn ngữ. Tại vùng đất hội tụ người Việt, Khmer, Hoa, Chăm, các niềm tin tôn giáo đóng vai trò như chiếc cầu nối văn hóa, tạo dựng sự đồng cảm và đoàn kết giữa các tín đồ. Ngôi chùa Khmer, thánh đường Hồi giáo hay các thánh thất, chùa Việt không chỉ là nơi thực hành nghi lễ mà còn là không gian sinh hoạt chung, củng cố tính cố kết xã hội vững chắc.

Thứ hai, chức năng kiểm soát xã hội vận hành thông qua các giá trị, giáo luật và chuẩn mực đạo đức tôn giáo. Bằng việc khuyên nhủ tín đồ hướng thiện, tránh xa điều ác, các tôn giáo tại Nam Bộ tạo nên cơ chế tự điều chỉnh hành vi cá nhân, thúc đẩy tính tuân thủ xã hội, góp phần giữ gìn an ninh trật tự và sự ổn định tại các địa phương.

Thứ ba, chức năng hỗ trợ xã hội đem lại điểm tựa tinh thần và vật chất thiết thực. Trước những biến cố thiên tai, dịch bệnh hay nghịch cảnh lịch sử, niềm tin tôn giáo giúp con người vượt qua sự sợ hãi và tuyệt vọng. Hơn thế nữa, chức năng này được cụ thể hóa qua hàng loạt hoạt động an sinh xã hội sâu rộng như mở phòng thuốc Nam miễn phí, xây dựng cầu đường nông thôn, lập bếp ăn tình thương và dựng nhà từ thiện cho người nghèo.

2.2. Đặc trưng giá trị tôn giáo

Thứ nhất, tính hỗn dung văn hóa thể hiện ở sự hòa nhập, tiếp biến cởi mở. Người dân Nam Bộ dung hòa các yếu tố của Nho, Phật, Đạo cùng tín ngưỡng dân gian thờ Thần, thờ Mẫu, thờ cúng Tổ tiên trên cùng một không gian tâm linh.

Thứ hai, tính thực dụng và linh hoạt gắn liền với tâm lý của người nông dân làm đơn giản hóa nghi lễ, lược bỏ các giáo điều rườm rà, đưa tôn giáo trở nên bình dị, dễ hiểu, dễ thực hành ngay trong đời sống thường nhật. Triết lý “Học Phật, tu Nhân”, “Tại gia cư sĩ”, “Tứ trọng ân” của các tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo… chính là minh chứng cho việc biến việc tu tập thành hành động phụng sự cha mẹ, đất nước và đồng bào.

Thứ ba, tinh thần nhập thế tích cực biến tôn giáo thành một lực lượng xã hội đồng hành cùng dân tộc. Các chức sắc, tín đồ không tách rời thế tục mà trực tiếp tham gia khai hoang lập ấp, chữa bệnh cứu người và kiên cường sát cánh cùng Nhân dân trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.

3. Gía trị tôn giáo trong đời sống xã hội Nam Bộ

Thứ nhất, định hình nhân cách, đạo đức, văn hóa ứng xử

Các giá trị tôn giáo đã nhào nặn nên hệ giá trị nhân văn và tính cách đặc trưng của cư dân Nam Bộ. Triết lý “Học Phật, tu Nhân”, “Tại gia cư sĩ” kết hợp với đạo lý “Tứ trọng ân” của một số tôn giáo nội sinh hay tinh thần bác ái của Công giáo, “Tứ vô lượng tâm” của Phật giáo đã trở thành các chuẩn mực đạo đức xã hội. Người dân Nam Bộ coi việc giữ trọn lòng hiếu thảo, tình nghĩa xóm giềng và sự trung thành với Tổ quốc là thước đo phẩm giá. Hệ giá trị này hình thành nên phong thái cởi mở, phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, sẵn sàng nhường cơm xẻ áo cho người hoạn nạn. Tôn giáo ở đây không hướng con người đến sự khổ hạnh hay xa rời thực tại, mà ngược lại, định hướng họ sống tử tế, lương thiện ngay trong chính ngôi nhà và thửa ruộng của mình.

Thứ hai, củng cố liên kết cộng đồng và bảo tồn bản sắc đa tộc người

Tôn giáo đóng vai trò kết nối các cộng đồng cư dân Việt, Khmer, Hoa, Chăm cùng sinh sống trên vùng đất phương Nam. Với người Khmer, Phật giáo Nam tông không chỉ là tín ngưỡng mà là toàn bộ đời sống tinh thần; ngôi chùa chính là trung tâm sinh hoạt văn hóa, trường dạy chữ, dạy nghề, bảo tồn nghệ thuật truyền thống và là biểu tượng tinh thần của phum sóc. Đối với người Chăm, Islam (Hồi giáo) giữ vai trò chủ đạo trong việc định hình nếp sống gia đình, quan hệ xã hội và giữ gìn nét văn hóa đặc thù qua các nghi lễ nghiêm ngặt.

Không những vậy, tính chất hỗn dung tôn giáo Nam Bộ cho phép các không gian tâm linh trở thành điểm giao lưu văn hóa bình đẳng. Các lễ hội tôn giáo lớn thu hút hàng triệu lượt người thuộc nhiều tộc người và tín ngưỡng khác nhau tham gia, giúp xóa bỏ định kiến, tăng cường sự thấu hiểu và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ ba, đóng góp to lớn trong an sinh xã hội, y tế và phát triển hạ tầng Xuất phát từ triết lý trì tâm tích phước và phụng sự chúng sinh, các tổ chức và tín đồ tôn giáo đã kiến tạo nên những mô hình an sinh độc đáo. Đó là hệ thống hàng trăm phòng thuốc Nam chữa bệnh miễn phí của Phật giáo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Ng hĩa với các đội sưu tầm dược liệu tự nguyện; là các bếp ăn tình thương cung cấp hàng triệu suất ăn miễn phí mỗi năm cho bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện hay các đội bắc cầu từ thiện, đội đắp đường do tín đồ tự nguyện quyên góp kinh phí và công sức để bê tông hóa hàng nghìn chiếc cầu nông thôn. Những hoạt động thiết thực này không chỉ trực tiếp giải quyết các rủi ro xã hội, hỗ trợ những người yếu thế mà còn giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách nhà nước, làm thay đổi đáng kể diện mạo nông thôn Nam Bộ.

Thứ tư, động lực phát triển kinh tế và hành vi lao động

Ngay từ thế kỷ XIX, các phong trào tôn giáo đã gắn liền việc truyền đạo với hoạt động lập trại ruộng, khuyến khích tín đồ khai hoang biến vùng hoang vu Thới Sơn, Láng Linh thành những vùng quê trù phú. Đến giữa thế kỷ XX, việc kết hợp truyền đạo với các chiến dịch khuyến nông, áp dụng kỹ thuật trồng trọt của Phật giáo Hòa Hảo đã giúp người nông dân nâng cao năng suất, đề cao tinh thần tự lực cánh sinh. Bên cạnh đó, tín ngưỡng thờ thần Đất, thần Sông cùng triết lý tôn trọng sự sống của Phật giáo đã giáo dục cư dân lối sống hòa hợp với hệ sinh thái sông nước, khai thác tài nguyên thiên nhiên vừa đủ, tạo nên sự cân bằng sinh thái lâu dài.

Thứ năm, bảo vệ Tổ quốc và giữ vững an ninh trật tự

Giá trị lòng yêu nước trong giáo lý, đặc biệt là ân đất nước đã biến nhiều tổ chức tôn giáo Nam Bộ thành các căn cứ và lực lượng kháng chiến kiên cường. Từ các phong trào chống thực dân Pháp của tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương đến sự tham gia đông đảo của chức sắc, phật tử Phật giáo Nam tông Khmer và tín đồ Cao Đài, Hòa Hảo trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, tôn giáo đã chứng minh tinh thần luôn đồng hành cùng dân tộc. Trong thời kỳ hòa bình, chức năng kiểm soát xã hội của tôn giáo giúp duy trì môi trường sống lành mạnh; các địa phương có đông tín đồ có tình hình an ninh trật tự tốt hơn nhờ việc giáo dục tín đồ tự giác chấp hành pháp luật, tránh xa các tệ nạn xã hội.

4. Định hướng phát huy giá trị tôn giáo ở Nam Bộ

Thứ nhất, cần khơi dậy và lan tỏa các giá trị sinh thái, đạo đức tôn giáo vào công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Triết lý sống hòa hợp với thiên nhiên, tinh thần tôn trọng sự sống và giáo lý không sát sinh của Phật giáo, hay quan niệm “Tứ trọng ân” của các tôn giáo nội sinh chứa đựng những thông điệp sinh thái rất sâu sắc. Trong bối cảnh sinh thái sông nước Mê Kông đang bị tổn thương, việc lồng ghép tuyên truyền bảo vệ nguồn nước, hạn chế rác thải nhựa, bảo vệ rừng ngập mặn và chuyển đổi mô hình sản xuất thích ứng hạn mặn thông qua các buổi thuyết pháp, sinh hoạt tôn giáo tại chùa, nhà thờ, thánh thất sẽ mang lại hiệu quả trực quan, thuyết phục và lan tỏa nhanh chóng đến từng hộ gia đình nông dân.

Thứ hai, nâng tầm và xã hội hóa các nguồn lực an sinh, y tế, từ thiện của tôn giáo theo hướng chuyên nghiệp và bền vững. Nam Bộ vốn có truyền thống hoạt động xã hội tôn giáo sôi nổi nhất cả nước với hệ thống phòng thuốc Nam chữa bệnh miễn phí, các bếp ăn tình thương, đội xây cầu đắp đường nông thôn và các quỹ cứu trợ thiên tai do tín đồ tự nguyện đóng góp. Để phát huy tối đa nguồn lực này, chính quyền địa phương cần đóng vai trò định hướng, tạo cơ chế pháp lý thuận lợi và hỗ trợ về kỹ thuật, chuyên môn y tế. Việc kết hợp giữa lòng nhân ái, tinh thần phụng sự của tín đồ tôn giáo với quản trị hiện đại sẽ giúp mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người yếu thế và giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước một cách hiệu quả.

Thứ ba, chuyển hóa các di sản văn hóa, kiến trúc tôn giáo thành động lực phát triển kinh tế - du lịch bền vững. Nam Bộ sở hữu hệ thống di sản kiến trúc tôn giáo vô cùng phong phú như chùa Khmer, thánh thất Cao Đài, thánh đường Hồi giáo, ngôi chùa cổ và các lễ hội lớn, việc quy hoạch và phát triển các mô hình du lịch văn hóa - tâm linh bền vững không chỉ giúp bảo tồn, lan tỏa bản sắc văn hóa đa tộc người mà còn tạo ra chuỗi giá trị kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho cư dân địa phương. Quá trình này cần gắn liền với việc giữ gìn tính chất thiêng liêng của không gian tôn giáo, tránh thương mại hóa làm biến dạng di sản.

Thứ tư, chủ động định hướng chuyển đổi tư duy kinh tế thị trường cho các cộng đồng tín đồ. Giải pháp chiến lược là cần phát huy vai trò của các chức sắc, Người có uy tín trong tôn giáo để tuyên truyền, vận động tín đồ đổi mới tư duy làm ăn; kết hợp giáo dục tri thức khoa học, kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao với giáo lý tôn giáo nhằm khuyến khích tinh thần làm giàu chính đáng, vươn lên thoát nghèo bền vững.

Thứ năm, củng cố chức năng kiểm soát và tích hợp xã hội của tôn giáo để giữ vững an ninh, trật tự và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Một môi trường xã hội ổn định là tiền đề cốt lõi cho mọi chính sách phát triển. Sự đồng hành của các tổ chức tôn giáo trong việc giáo dục tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, chấp hành pháp luật, đẩy lùi tệ nạn xã hội và hòa giải mâu thuẫn cộng đồng sẽ góp phần xây dựng các xóm làng an toàn, văn minh. Nhà nước cần tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, chủ động ngăn ngừa các biểu hiện mê tín dị đoan hoặc âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc Nam Bộ.

5. Kết luận

Tôn giáo ở Nam Bộ là một hiện tượng văn hóa - xã hội đặc sắc, gắn liền với lịch sử khai phá, xây dựng và bảo vệ vùng đất phương Nam của Tổ quốc. Các giá trị tôn giáo du nhập cũng như nội sinh đã thực hiện hiệu quả các chức năng tích hợp xã hội, kiểm soát xã hội và hỗ trợ xã hội, góp phần định hình bản sắc văn hóa và nếp sống của cư dân Nam Bộ. Thực tiễn lịch sử và đương đại khẳng định giá trị tôn giáo là một phần cấu thành quan trọng của nguồn vốn xã hội. Việc nhận diện đúng đắn, bảo tồn và phát huy các giá trị tích cực của tôn giáo sẽ tạo tiền đề vững chắc cho mục tiêu phát triển bền vững kinh tế, văn hóa, xã hội vùng Nam Bộ trong thời kỳ hội nhập và phát triển .

Tài liệu tham khảo

1. Trần Thuận (2020), Tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM, số 15.

2. Định Văn Hạnh (1999), Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của người Việt Nam Bộ, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.

3. Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4. Đỗ Quang Hưng (2001), Hiện tượng tôn giáo mới - mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2001.

5. Phạm Bích Hợp (2005), Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa (Bửu Sơn Kỳ Hương - Cao Đài - Hòa Hảo), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.

6. Phan An (2012), Người Việt Nam Bộ, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

7. Trần Hồng Liên (1995), Đạo Phật trong cộng đồng người Việt Nam Bộ - Việt Nam từ thế kỷ XVII đến 1975, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

8. Nguyễn Văn Minh (2009), Tổng quan về tôn giáo mới trên thế giới và Việt Nam, Tạp chí Dân tộc học số 6/2009.