Tăng cường vai trò Người có uy tín trong thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở là yêu cầu có ý nghĩa cả về pháp lý và xã hội, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Trong ảnh: Người có uy tín phối hợp với lực lượng Công an tuyên truyền vận động nhân dân giữ gìn an ninh trật tự ở cơ sở)Từ khóa: Người có uy tín; Hòa giải ở cơ sở; Luật Hòa giải ở cơ sở; Vốn xã hội; Quản trị cộng đồng; Dân tộc thiểu số.
1. Đặt vấn đề
Hòa giải ở cơ sở là một thiết chế quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, góp phần giải quyết kịp thời mâu thuẫn, tranh chấp trong cộng đồng, hạn chế phát sinh khiếu kiện, giữ gìn đoàn kết và củng cố trật tự xã hội. Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động hòa giải, đồng thời khuyến khích những cá nhân có uy tín trong gia đình, dòng họ và cộng đồng tham gia hòa giải.
Trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Người có uy tín sở hữu một nguồn vốn xã hội đặc thù, được hình thành từ niềm tin, sự gương mẫu, hiểu biết văn hóa, phong tục, quan hệ cộng đồng và năng lực vận động quần chúng. Chính những đặc điểm này tạo cho họ khả năng phát hiện sớm mâu thuẫn, kết nối các bên, thuyết phục bằng ngôn ngữ và chuẩn mực văn hóa phù hợp, qua đó hỗ trợ chuyển hóa quy định pháp luật thành sự đồng thuận và tự nguyện chấp hành. Chính sách hiện hành cũng xác định Người có uy tín phải có khả năng tuyên truyền, vận động, nắm bắt thông tin và được cộng đồng tin tưởng, nghe theo.
Tuy nhiên, vai trò này chưa phải lúc nào cũng được thể chế hóa thành cơ chế phối hợp thường xuyên giữa Người có uy tín, hòa giải viên, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội. Vì vậy, nghiên cứu tăng cường vai trò Người có uy tín trong thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở không chỉ có ý nghĩa nâng cao hiệu quả hòa giải, đặc biệt còn góp phần kết hợp tính chính danh của pháp luật với tính chính đáng của cộng đồng, qua đó củng cố đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu quả quản trị cơ sở.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Vai trò của Người có uy tín trong thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở
Người có uy tín giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa quy định pháp luật thành sự đồng thuận và hành vi tự nguyện của cộng đồng, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi các quan hệ dòng họ, cộng đồng và chuẩn mực văn hóa có ảnh hưởng sâu sắc đến ứng xử xã hội.
Thứ nhất, Người có uy tín là chủ thể tạo dựng và củng cố niềm tin. Uy tín được tích lũy từ sự gương mẫu, hiểu biết, trách nhiệm và quan hệ xã hội giúp họ tiếp cận các bên đang có mâu thuẫn, tạo không gian đối thoại và khuyến khích các bên bình tĩnh tìm kiếm giải pháp phù hợp.
Thứ hai, Người có uy tín có khả năng phát hiện sớm, kết nối và định hướng xử lý mâu thuẫn, qua đó góp phần ngăn ngừa xung đột nhỏ phát triển thành tranh chấp phức tạp.
Thứ ba, tri thức về văn hóa, phong tục, quan hệ dòng họ và đặc điểm cộng đồng giúp họ hỗ trợ hòa giải viên lựa chọn cách thức giao tiếp, thuyết phục phù hợp, làm cho quy định pháp luật trở nên dễ hiểu và có sức thuyết phục hơn.
Thứ tư, Người có uy tín góp phần tuyên truyền, giải thích pháp luật và củng cố kết quả hòa giải sau thỏa thuận, thúc đẩy các bên thực hiện cam kết, khôi phục quan hệ xã hội và phòng ngừa tái diễn mâu thuẫn. Tuy nhiên, vai trò này phải được đặt trong giới hạn pháp luật: Người có uy tín không thay thế hòa giải viên, không áp đặt quyết định và không hợp thức hóa phong tục trái pháp luật. Vì vậy, tăng cường vai trò Người có uy tín cần được thực hiện theo cơ chế “uy tín xã hội, niềm tin, đối thoại, hỗ trợ pháp lý, đồng thuận”, qua đó bổ sung nguồn lực xã hội cho thiết chế hòa giải ở cơ sở và nâng cao hiệu quả quản trị cộng đồng.
2.2. Thực trạng phát huy vai trò của Người có uy tín trong thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở
Thứ nhất, những kết quả đạt được. Sau 13 năm thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, mạng lưới hòa giải đã được củng cố rộng khắp. Theo báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật Hoà giải ở cơ sở do Bộ Tư pháp ban hành, từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2023, cả nước tiếp nhận 1.364.806 vụ, việc hòa giải (trung bình 136.481 vụ, việc/năm), trong đó, hòa giải thành 1.096.572/1.350.533 vụ, việc đã tiến hành hòa giải (trung bình 109.657 vụ, việc/năm), đạt tỷ lệ 81,2%. Tỷ lệ hòa giải thành ngày càng cao. Một số tỉnh có tỷ lệ hòa giải thành cao như: Long An (93,2%); An Giang (91,67%); Vĩnh Long (91,55%); Đà Nẵng (90,95%); Hậu Giang (90,89%); Yên Bái (90,88%); Bến Tre (90,21%)…và một số tỉnh có tỷ lệ hòa giải thành thấp như: Bình Phước (61,73%); Cao Bằng (68,66%); Ninh Thuận (70,71%); Bắc Ninh (71,29%); Đắk Lắk (71,38%); Thái Nguyên (71,79%); Đắk Nông (72,02%)…). Giai đoạn 2014-2018, tỷ lệ hòa giải thành trung bình đạt 80,39%; năm 2019, tỷ lệ hòa giải thành đạt 82,67%; năm 2020, đạt 80,60%; năm 2021, đạt 80,54%; năm 2022 đạt 82,7%; năm 2023 đạt 85,13%. Qua 13 năm, số lượng tổ hòa giải và hòa giải viên ở cơ sở ngày càng được tinh gọn, tính đến ngày 31/12/2023, cả nước có 86.178 tổ hòa giải được thành lập tại thôn, tổ dân phố với 542.321 hòa giải viên. Đến nay, hầu hết mỗi thôn, tổ dân phố có 01 tổ hòa giải. Số lượng thành viên của mỗi tổ hòa giải trung bình từ 05 - 07 hòa giải viên/tổ, thành phần tổ hòa giải có hòa giải viên nữ, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số. Tổ hòa giải thường có Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố, Trưởng ban Ban công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trưởng các tổ chức đoàn thể tại thôn, tổ dân phố (như Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Người cao tuổi, Người có uy tín trong cộng đồng dân cư…). Hòa giải viên đa số là người có kinh nghiệm trong thực hiện công tác ở địa phương, Người có uy tín trong cộng đồng dân cư được Nhân dân bầu và tạo được niềm tin trong cộng đồng dân cư [5].
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vai trò này có cơ sở pháp lý tương đối rõ. Nghị định số 307/2026/NĐ-СР ngày 04/8/2026 của Chính phủ: Quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với Người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà, động viên, gặp mặt, biểu dương, tôn vinh đối với một số tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số. Trong đó về tiêu chí lựa chọn, công nhận Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số nêu rõ Người có uy tín phải am hiểu văn hóa, phong tục, tập quán, có quan hệ và ảnh hưởng trong cộng đồng; đồng thời được tập huấn kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải, tuyên truyền, vận động quần chúng. Nghị định số 307/2026/NĐ СР ngày 04/8/2026 của Chính phủ tiếp tục nhấn mạnh năng lực tuyên truyền, vận động, nắm bắt và xử lý thông tin, quy tụ đồng bào và được cộng đồng tín nhiệm, tin tưởng, nghe và làm theo.
Thực tiễn địa phương cho thấy nguồn lực này đã tạo ra những kết quả cụ thể. Chẳng hạn, ở thôn Đèo Luông, xã Tri Lễ, tỉnh Lạng Sơn, từ năm 2021 đến 2024 đã cùng Tổ hòa giải hòa giải thành 4 vụ việc, góp phần không để phát sinh đơn thư khiếu nại và giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn. Tại tỉnh Quảng Ninh, năm 2024 có 391 Người có uy tín; lực lượng này không chỉ tham gia giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp mà còn đóng góp trên 200 lượt ý kiến, kiến nghị với cấp ủy, chính quyền về những vấn đề liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng, đất đai, giao đất, giao rừng và hỗ trợ sản xuất.
Một ví dụ khác cho thấy khả năng kết hợp giữa Người có uy tín với lực lượng cơ sở đã đạt được những kết quả tích cực. Đó là mô hình tại xã Vĩnh Bình Bắc, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang cũ (nay là xã Vĩnh Bình, tỉnh An Giang). Trong năm 2024, Người có uy tín trong đồng bào Khmer phối hợp với Công an xã hòa giải thành 7 vụ việc liên quan đến mâu thuẫn nội bộ cộng đồng; đồng thời vận động, giáo dục 10 trường hợp vi phạm pháp luật và cung cấp 9 tin có giá trị về an ninh, trật tự. Những minh chứng này cho thấy Người có uy tín không chỉ tham gia “giải quyết vụ việc” mà còn có khả năng phòng ngừa xung đột từ sớm, từ cơ sở, thông qua quan hệ xã hội và niềm tin cộng đồng.
Thứ hai, những hạn chế, bất cập. Mặc dù, có nhiều kết quả tích cực, việc phát huy Người có uy tín trong thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở vẫn chưa được lượng hóa thành một hệ thống chỉ tiêu thống nhất trên phạm vi cả nước. Số liệu quốc gia hiện chủ yếu thống kê theo tổ hòa giải và hòa giải viên, chưa tách riêng số vụ việc có Người có uy tín tham gia. Vì vậy, chưa đủ cơ sở để khẳng định mức độ đóng góp định lượng của lực lượng này vào tỷ lệ hòa giải thành…
Bên cạnh đó, sự tham gia của Người có uy tín tại nhiều địa bàn còn phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân và quan hệ cộng đồng, chưa hình thành đầy đủ cơ chế phối hợp thường xuyên giữa Người có uy tín, hòa giải viên, công chức tư pháp - hộ tịch, Mặt trận Tổ quốc và chính quyền cơ sở. Năng lực pháp luật, kỹ năng đối thoại và nhận diện giới hạn của hòa giải ở một bộ phận Người có uy tín chưa đồng đều. Đặc biệt, nếu quá đề cao phong tục hoặc uy tín cá nhân mà thiếu “bộ lọc pháp lý”, có thể xuất hiện nguy cơ vận dụng tập quán không phù hợp với nguyên tắc bình đẳng và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.
Như vậy, thực trạng cho thấy nguồn lực xã hội của Người có uy tín đã hiện hữu và phát huy hiệu quả ở nhiều địa bàn, nhưng cơ chế chuyển hóa nguồn lực đó thành một bộ phận có tổ chức của hệ thống hòa giải ở cơ sở vẫn còn chưa đầy đủ. Đây chính là khoảng trống cần được giải quyết thông qua cơ chế phối hợp, đào tạo và đánh giá hiệu quả phù hợp với từng địa bàn dân tộc thiểu số.
2.3. Giải pháp tăng cường vai trò của Người có uy tín trong thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở
Một là, thể chế hóa cơ chế phối hợp giữa Người có uy tín và hòa giải viên. UBND cấp xã, công chức tư pháp - hộ tịch, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ hòa giải cần xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên, xác định rõ Người có uy tín là chủ thể hỗ trợ phát hiện mâu thuẫn, kết nối, vận động và tạo đồng thuận; hòa giải viên chịu trách nhiệm về quy trình, nguyên tắc và yêu cầu pháp lý của hoạt động hòa giải. Cách tiếp cận này phát huy nguồn lực xã hội nhưng không tạo ra một thiết chế hòa giải song song.
Hai là, nâng cao năng lực pháp luật và kỹ năng hòa giải cho Người có uy tín. Cơ quan tư pháp phối hợp với cơ quan dân tộc, MTTQ và chính quyền cơ sở cần tổ chức các chương trình bồi dưỡng ngắn gọn, thực tiễn về pháp luật, kỹ năng đối thoại, lắng nghe, thuyết phục, bảo mật thông tin, bình đẳng giới và nhận diện những vụ việc không thuộc phạm vi hòa giải. Nội dung đào tạo cần ưu tiên tình huống thực tế tại cộng đồng dân tộc thiểu số.
Ba là, xây dựng cơ chế huy động Người có uy tín tham gia từ sớm. Chính quyền và tổ hòa giải cần thiết lập kênh trao đổi để Người có uy tín kịp thời phản ánh mâu thuẫn mới phát sinh, hỗ trợ hòa giải viên đánh giá nguyên nhân và đặc điểm quan hệ cộng đồng, qua đó chuyển trọng tâm từ “giải quyết tranh chấp” sang phòng ngừa và quản trị xung đột.
Bốn là, phát huy tri thức văn hóa nhưng đặt trong giới hạn pháp luật. Cần khuyến khích Người có uy tín vận dụng phong tục, ngôn ngữ và chuẩn mực cộng đồng để tăng sức thuyết phục, đồng thời quán triệt nguyên tắc không áp dụng tập quán trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Năm là, xây dựng cơ chế ghi nhận và đánh giá hiệu quả. Cần có hình thức biểu dương, hỗ trợ phù hợp đối với Người có uy tín tham gia tích cực; đồng thời đánh giá kết quả không chỉ bằng số vụ hòa giải thành mà còn bằng mức độ tự nguyện thực hiện thỏa thuận, khả năng ngăn ngừa tái diễn mâu thuẫn và mức độ củng cố đoàn kết cộng đồng. Qua đó hình thành mô hình “hòa giải viên chủ trì - Người có uy tín hỗ trợ - chính quyền bảo đảm pháp lý - cộng đồng đồng thuận”, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở.
Do đó, giá trị quan trọng của việc tăng cường vai trò Người có uy tín nằm ở khả năng tạo lập chuỗi “uy tín xã hội - niềm tin - đối thoại - thỏa thuận tự nguyện - thực hiện cam kết - ổn định quan hệ cộng đồng”. Đây không chỉ là giải pháp nâng cao hiệu quả hòa giải, mà còn góp phần chuyển từ tư duy xử lý mâu thuẫn sang phòng ngừa xung đột và quản trị cộng đồng dựa trên pháp luật, niềm tin và đồng thuận xã hội.
3. Thảo luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tăng cường vai trò Người có uy tín trong thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở cần được nhìn nhận không đơn thuần là mở rộng lực lượng tham gia hòa giải, mà là bổ sung vốn xã hội cho một thiết chế pháp lý đã được luật hóa. Luật Hòa giải ở cơ sở tạo khuôn khổ pháp lý cho việc giải quyết mâu thuẫn trên cơ sở tự nguyện, trong khi Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở đã ghi nhận và khuyến khích cá nhân có uy tín trong gia đình, dòng họ, cộng đồng tham gia hòa giải.
Về phương diện lý luận, Người có uy tín tạo ra một “kênh xã hội” giúp pháp luật tiếp cận cộng đồng thông qua niềm tin, quan hệ xã hội, tri thức văn hóa và khả năng thuyết phục. Nếu hòa giải viên cung cấp tính chính danh pháp lý, thì Người có uy tín có khả năng gia tăng tính chấp nhận xã hội của quá trình hòa giải. Sự kết hợp này đặc biệt có ý nghĩa tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi các quan hệ cộng đồng và chuẩn mực văn hóa có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi ứng xử.
Tuy nhiên, cần tránh hai khuynh hướng cực đoan: hoặc tuyệt đối hóa vai trò của pháp luật mà xem nhẹ vốn xã hội cộng đồng, hoặc tuyệt đối hóa uy tín cá nhân đến mức biến Người có uy tín thành một “thiết chế pháp lý không chính thức”. Quan điểm phù hợp là pháp luật giữ vai trò khuôn khổ; hòa giải viên giữ vai trò chủ trì chuyên môn; Người có uy tín giữ vai trò kết nối, thuyết phục và hỗ trợ; cộng đồng là chủ thể tạo lập đồng thuận. Chính sách hiện hành về Người có uy tín cũng tiếp tục nhấn mạnh năng lực vận động, tập hợp và mức độ được cộng đồng tin tưởng.
4. Kết luận
Tăng cường vai trò Người có uy tín trong thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở là yêu cầu có ý nghĩa cả về pháp lý và xã hội, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với lợi thế về niềm tin, uy tín xã hội, tri thức văn hóa và mạng lưới cộng đồng, Người có uy tín có thể bổ trợ hiệu quả cho hoạt động của hòa giải viên, góp phần phát hiện sớm mâu thuẫn, thúc đẩy đối thoại, thuyết phục và hình thành đồng thuận tự nguyện. Tuy nhiên, cần bảo đảm nguyên tắc pháp luật là khuôn khổ, hòa giải viên là chủ thể chuyên môn, Người có uy tín là nguồn lực xã hội hỗ trợ. Qua đó, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, phòng ngừa xung đột và củng cố đoàn kết, ổn định cộng đồng .
*Học viện Quốc phòng, Bộ Quốc phòng
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Tư pháp (2022), Phát huy hơn nữa vai trò của một số lực lượng tham gia công tác hòa giải ở cơ sở, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Hà Nội.
2. Bộ Tư pháp (2023), Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
3. Bộ Tư pháp (2023), Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, Hà Nội. 2. Chính phủ (2014), Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, Hà Nội. 3. Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2014), Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT-CP UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, Hà Nội.
4. Chính phủ (2026), Nghị định số 307/2026/NĐ-CP ngày 04/8/2026 quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với Người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà, động viên, gặp mặt, biểu dương, tôn vinh đối với một số tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số, Hà Nội.
5. Thu Lý, 2024), 10 năm tỷ lệ hòa giải thành ở cơ sở toàn quốc đạt tỷ lệ 81,2%, https://pbgdpl.hanoi.gov. vn/hoa-giai-co-so/-/asset_publisher/sxBNLsQSLyY8/ content/10-nam-ty-le-hoa-giai-thanh-o-co-so-toan quoc-at-ty-le-81-2 6. Quốc hội (2013), Luật Hòa giải ở cơ sở, Hà Nội.