Từ khóa: Thôn thông minh; Chuyển đổi số; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Chính quyền địa phương hai cấp.
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh và việc sáp nhập thôn bản, tổ dân phố, xây dựng “thôn thông minh” không còn là tùy chọn mà đã trở thành yêu cầu khách quan của quá trình phát triển1. Thế nào là thôn thông minh
Chuyển đổi số được xác định là một trong những đột phá chiến lược, tạo ra cơ hội để các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) rút ngắn khoảng cách phát triển với các khu vực khác. Nhưng chuyển đổi số chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được triển khai đến tận thôn bản - nơi diễn ra các hoạt động quản trị cộng đồng, sản xuất, sinh hoạt của người dân.
Trong Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026 2030, có tiêu chí số 7: Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số, với một trong những nội dung của tiêu chí là: “Có mô hình thôn thông minh”.
Tuy nhiên, đến nay, khái niệm “thôn thông minh” vẫn chưa có diễn giải cụ thể , dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau giữa các địa phương. Ví dụ, theo tiêu chí của thành phố Đà Nẵng áp dụng cho giai đoạn 2023 2025, “thôn thông minh” là thôn thuộc xã đạt chuẩn nông thôn mới và đáp ứng đầy đủ các tiêu chí: (i) Có hạ tầng internet cáp quang và có sóng thông tin di động 3G/4G/5G phủ đến 100% các hộ gia đình. (ii) Có mạng wifi miễn phí ở các điểm công cộng như UBND xã nếu UBND xã đóng trên địa bàn thôn; nhà văn hóa thôn nơi sinh hoạt cộng đồng; điểm du lịch cộng đồng... (iii) Có nhà văn hóa thôn nơi sinh hoạt cộng đồng được trang bị máy in, máy vi tính có kết nối mạng internet trực tuyến (có người quản lý, bảo trì, người hướng dẫn thực hiện). (iv) Có trang bị hệ thống hội nghị trực tuyến kết nối được với xã, huyện. (v) Có hệ thống loa hoạt động thường xuyên và phủ sóng đến 100% hộ gia đình nghe được đối với các thôn khu vực đồng bằng, 90% hộ gia đình nghe được đối với các thôn khu vực miền núi. (vi) Có cụm camera an ninh giám sát tại các khu vực công cộng, tuyến đường trục chính của thôn kết nối với hệ thống camera an ninh của UBND xã. (vii) Có 100% cán bộ thôn có ứng dụng các nền tảng xã hội số (zalo, messenger...) để thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền trong thôn. Từ 90% trở lên hộ gia đình trong thôn có người sử dụng nền tảng xã hội số (zalo, mes senger...) của Ban Nhân dân thôn lập ra trong quản lý, điều hành, giao tiếp, chia sẻ thông với người dân. (viii) Có từ 95% trở lên người dân trong độ tuổi lao động sử dụng điện thoại thông minh. Có từ 80% trở lên người dân có tài khoản công dân số. Có từ 70% trở lên hộ gia đình có tài khoản thanh toán điện tử, thanh toán được các dịch vụ thiết yếu (thanh toán tiền điện, nước, viễn thông…). Có 80% người từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác.
Còn Bộ tiêu chí tạm thời “thôn thông minh” của tỉnh Lào Cai gồm 4 trụ cột:
Về hạ tầng số: Tỷ lệ hộ gia đình được phủ sóng thông tin di động 4G trở lên, tỷ lệ khu dân cư có Inter net băng rộng cố định, khu dân cư có camera giám sát an ninh tại các điểm giao thông công cộng đạt 100%; có phương tiện tổ chức cuộc họp trực tuyến, kết nối trao đổi 2 chiều tại nhà văn hóa thôn, có đài truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông hoạt động thường xuyên, có tuyến cáp viễn thông trên các tuyến đường xây dựng mới được ngầm hóa.
Về ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý thôn: có họp trực tuyến tại nhà văn hóa thôn, thực hiện gửi nhận văn bản, tài liệu qua ứng dụng của cấp trên, sử dụng các nền tảng mạng xã hội để thông báo, tuyên truyền, tiếp nhận ý kiến trong cộng đồng, khảo sát thu thập thông tin, có sử dụng công cụ quản lý dữ liệu thông minh hỗ trợ hoạt động thôn. Các tổ chức trong thôn (chi bộ, chính quyền thôn, hội, ban,…) sử dụng các ứng dụng của cấp trên triển khai (Sổ tay đảng viên; EGOV...), tỷ lệ nộp hồ sơ dịch vụ công trực tuyến qua ứng dụng VNEID đạt 100%.
Về kinh tế số: tỷ lệ hộ, cơ sở kinh doanh sử dụng dịch vụ thanh toán số đạt 100%. Ứng dụng trong sản xuất, kinh doanh (sử dụng nhóm Zalo chia sẻ kỹ thuật, nhật ký sản xuất điện tử, tem QR quản lý sản phẩm, hệ thống tưới tự động, quản lý bán hàng; truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa). Tỷ lệ hộ, cơ sở kinh doanh quảng bá sản phẩm trên nền tảng số qua mạng xã hội (Facebook, Zalo...), các sàn thương mại điện tử đạt 90%. Có mô hình ứng dụng thông minh nâng cao đời sống xã hội (y tế, giáo dục, du lịch, nông nghiệp, giao thông, môi trường, các lĩnh vực khác…).
Về xã hội số: số người đủ tuổi vị thành niên cài đặt, sử dụng các nền tảng dùng chung như: Người bản số, LaoCai-S ..., tỷ lệ người dân có định danh điện tử VNEID mức 2, tỷ lệ hộ gia đình được hướng dẫn, tập huấn kỹ năng số cơ bản (nộp hồ sơ trực tuyến, an toàn thông tin, ứng dụng trí tuệ nhân tạo…) đạt 100%. Hoạt động của tổ công nghệ số cộng đồng duy trì 1 lần/tháng. Hằng năm, tổ chức các đợt tuyên truyền cho người dân về an toàn thông tin, phòng chống lừa đảo trực tuyến, bảo vệ dữ liệu cá nhân trên môi trường mạng; tỷ lệ hộ gia đình được tiếp cận và sử dụng các nền tảng, dịch vụ, tư vấn chăm sóc sức khoẻ trực tuyến, hồ sơ sức khỏe, sổ khám sức khỏe điện tử và công dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản giao dịch của các tổ chức được Nhà nước cấp phép hoạt động đạt 100%.
Như vậy, tiêu chí “thôn thông minh” của các địa phương chưa có sự thống nhất. Nơi tập trung vào hạ tầng công nghệ số, nơi khác lại chú trọng ứng dụng công nghệ số vào quản trị hoặc sản xuất kinh doanh. Vì thiếu định nghĩa chung, các tiêu chí cũng không đồng nhất, gây khó khăn trong triển khai, đánh giá, đặt ra nhu cầu cấp thiết cần sớm thống nhất một khái niệm chung và bộ tiêu chí phù hợp để định hướng phát triển mô hình “thôn thông minh” trên cả nước.
2. Sự cần thiết xây dựng “thôn thông minh” ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Tính đến trước 01/7/2025, cả nước có 3.437 xã thuộc vùng đồng bào DTTS&MN trên địa bàn 51 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 13.222 thôn đặc biệt khó khăn.
Theo Quyết định số 211/QĐ-BDTTG ngày 10/4/2026 của Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo phê duyệt và công bố danh sách tỉnh vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2030, cả nước có 15 tỉnh, thành phố đạt tiêu chí tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS); 12 tỉnh đạt tiêu chí tỉnh miền núi. Như vậy, 44% số tỉnh, thành phố trong cả nước thuộc vùng đồng bào DTTS và trên 35% số tỉnh thuộc vùng miền núi.
Giai đoạn 2026-2030, vùng đồng bào DTTS&MN có 1.514 xã, 205 xã không thuộc vùng đồng bào DTTS&MN nhưng có thôn thuộc vùng đồng bào DTTS&MN; 33.764 thôn vùng đồng bào DTTS&MN, trong đó có 13.139 thôn đặc biệt khó khăn tại 32 tỉnh, thành phố.
Trước và sau sắp xếp đơn vị hành chính, vùng đồng bào DTTS&MN luôn chiếm ¾ diện tích cả nước. Các thôn, bản vì thế rất rộng và cách xa nhau. Mặt khác, hiện nay, các địa phương đang tích cực thực hiện sáp nhập thôn, bản, tổ dân phố nên chắc chắn quy mô thôn, bản sẽ còn lớn hơn nữa cả về diện tích tự nhiên và số lượng dân cư. Việc này đặt ra bài toán mới trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, quản trị thôn bản cũng như trong cách thức tổ chức thực hiện chính sách dân tộc tại nơi đồng bào DTTS đang trực tiếp sinh sống, lao động, sản xuất.
Trong bối cảnh đó, “thôn thông minh” mang đến nhiều lợi ích nếu được triển khai trên diện rộng.
Thứ nhất, “thôn thông minh” sẽ khắc phục những hạn chế về khoảng cách địa lý và điều kiện tiếp cận dịch vụ công ở vùng đồng bào DTTS&MN. Ở những thôn, bản xa trung tâm hành chính xã, giao thông khó khăn, người dân gặp nhiều trở ngại trong thực hiện thủ tục hành chính, tiếp cận thông tin và các dịch vụ thiết yếu. Khi các nền tảng số được triển khai đồng bộ, đồng bào có thể tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến, thông tin chính sách, giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội khác ngay tại nơi cư trú, giúp giảm đáng kể chi phí, thời gian.
Thứ hai, “thôn thông minh” đóng vai trò là “cánh tay nối dài” của chính quyền cơ sở thông qua các nền tảng quản lý dữ liệu dân cư, phản ánh hiện trường, tiếp nhận kiến nghị, phổ biến chính sách và cung cấp thông tin hai chiều giữa chính quyền với người dân, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị cộng đồng.
Thứ ba, sau sắp xếp, phạm vi quản lý của thôn, bản được mở rộng, dân số đông hơn, địa bàn phức tạp hơn. Trong điều kiện đó, các công cụ số như cơ sở dữ liệu cộng đồng, nhóm tương tác trực tuyến, hệ thống giám sát an ninh thông minh, bản đồ số dân cư và nền tảng điều hành trực tuyến sẽ giúp thôn bản duy trì khả năng quản lý hiệu quả trên địa bàn rộng hơn.
Thứ tư, “thôn thông minh” thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số ở vùng đồng bào DTTS&MN. “Thôn thông minh” cho phép người dân quảng bá sản phẩm trên môi trường mạng, tham gia thương mại điện tử, ứng dụng truy xuất nguồn gốc, thanh toán số và quản lý sản xuất bằng công nghệ. Đây là cơ hội để các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm OCOP, sản phẩm làng nghề truyền thống và các dịch vụ du lịch cộng đồng - những thế mạnh đặc trưng của vùng đồng bào DTTS&MN có cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn, từ đó gia tăng sản xuất, gia tăng giá trị và nâng cao thu nhập cho người dân.
Thứ năm, “thôn thông minh” góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng xã hội số. Khi người dân được tiếp cận các chương trình đào tạo kỹ năng số, sử dụng dịch vụ số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các nền tảng trực tuyến, năng lực thích ứng với nền kinh tế số sẽ từng bước được cải thiện. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành “công dân số” ở vùng đồng bào DTTS&MN.
3. Cơ hội phát triển “thôn thông minh” ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, đến nay, cả nước đã có 96,5% số xã đạt tiêu chí 04 về điện; 85,7% số xã đạt tiêu chí 06 về cơ sở vật chất văn hóa; 97% số xã đạt tiêu chí 08 về thông tin và truyền thông. Riêng vùng DTTS&MN, tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác đạt 99%; tỷ lệ thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng đạt 93,8%. Bằng nguồn lực của Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2025, đã có 60 dự án công nghệ thông tin được triển khai thực hiện; xây dựng 933 điểm hỗ trợ đồng bào DTTS ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh trật tự; tổ chức 248 lớp tập huấn, hướng dẫn quản lý sử dụng thiết bị, duy trì, vận hành điểm ứng dụng công nghệ thông tin với 6.060 lượt người tham gia. Dịch vụ viễn thông di động, dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định tại các xã đặc biệt khó khăn phục vụ khoảng 5.400 điểm cung cấp dịch vụ. Các doanh nghiệp đã xóa vùng lõm sóng di động ở 1.245 thôn, bản. Nhìn chung, hạ tầng viễn thông, Internet, mạng 4G, 5G được mở rộng đã từng bước nâng cao năng lực chuyển đổi số tại thôn, bản vùng đồng bào DTTS&MN. Những kết quả này tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật quan trọng, thậm chí mang tính quyết định để triển khai mô hình “thôn thông minh”.
Trước hết, “thôn thông minh” không thể vận hành nếu thiếu nguồn điện ổn định phục vụ hệ thống viễn thông, Internet, camera giám sát, thiết bị hội nghị trực tuyến, các nền tảng số cộng đồng và các thiết bị thông minh của người dân. Tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia ở vùng đồng bào DTTS&MN gần như tuyệt đối đã tạo điều kiện để chuyển đổi số lan tỏa đến từng thôn, bản, hộ gia đình.
Nhà văn hóa thôn, bản được đầu tư có khả năng nâng cấp thành điểm truy cập internet công cộng, địa điểm tổ chức họp trực tuyến, tập huấn kỹ năng số, tuyên truyền chính sách và cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cho người dân. Trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và sáp nhập thôn bản, vai trò của nhà văn hóa thôn càng trở nên quan trọng khi có thể trở thành điểm kết nối ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý thôn, giúp chuyển đổi số đi vào đời sống cộng đồng.
Đặc biệt, những kết quả đạt được trong lĩnh vực thông tin và truyền thông có ý nghĩa trực tiếp nhất đối với xây dựng “thôn thông minh”. Việc mở rộng vùng phủ sóng di động, phát triển hạ tầng Internet băng rộng, nâng cao tỷ lệ người dân sử dụng điện thoại thông minh, tài khoản định danh điện tử và các nền tảng số tạo ra tiền đề để hình thành xã hội số ở thôn, bản. Khi người dân đã có khả năng tiếp cận Internet, việc triển khai dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, thương mại điện tử, khám chữa bệnh từ xa, giáo dục trực tuyến hay quản trị cộng đồng thông minh sẽ thuận lợi hơn.
Ở góc độ quản lý nhà nước, những thành tựu này giúp giảm đáng kể chi phí triển khai mô hình “thôn thông minh” khi nhiều điều kiện cơ bản đã được hình thành. Quan trọng hơn, nhận thức của người dân về công nghệ và chuyển đổi số đã thay đổi rõ rệt. Thông qua các Chương trình Mục tiêu quốc gia, người dân đã dần quen với Internet, điện thoại thông minh, các dịch vụ trực tuyến, các hình thức giao tiếp số. Đây là nguồn vốn xã hội rất quan trọng, bởi chuyển đổi số không chỉ là vấn đề công nghệ mà còn là quá trình thay đổi hành vi và phương thức tổ chức đời sống xã hội.
Từ tác động của chuyển đổi số đến quản trị xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giai đoạn 2026-2030, trong Hợp phần thứ hai: Các chính sách đặc thù phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN tiếp tục có nội dung “Hỗ trợ thiết lập, duy trì các điểm hỗ trợ đồng bào DTTS ứng dụng công nghệ thông tin tại xã, thôn để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh trật tự”. Chương trình cũng đặt ra nhiệm vụ: “phát triển và nhân rộng các mô hình “thôn thông minh”.
Để mô hình “thôn thông minh” sớm được nhân rộng tại những nơi có điều kiện phù hợp và phát huy hiệu quả ở vùng DTTS&MN, Bộ Khoa học và Công nghệ cần sớm ban hành hướng dẫn tiêu chí này, làm căn cứ để các địa phương tổ chức triển khai thực hiện; đồng thời đánh giá, xếp loại mức độ phát triển thôn thông minh theo lộ trình phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Bên cạnh đó, các tỉnh vùng đồng bào DTTS&MN cần ưu tiên đầu tư hạ tầng số, bảo đảm phủ sóng Internet băng rộng và thông tin di động đến tất cả các khu dân cư. Đây là điều kiện tiên quyết để triển khai các ứng dụng và dịch vụ số. Nâng cấp lưới điện nông thôn ổn định, an toàn; mở rộng hạ tầng số: viễn thông, Internet băng rộng, điểm kết nối số phục vụ công cộng; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thôn bản, Người có uy tín, thành viên tổ công nghệ số cộng đồng và lực lượng thanh niên để họ phát huy vai trò là những hạt nhân dẫn dắt quá trình chuyển đổi số tại cộng đồng...
4. Kết luận
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh và việc sáp nhập thôn bản, tổ dân phố, xây dựng “thôn thông minh” không còn là tùy chọn mà đã trở thành yêu cầu khách quan của quá trình phát triển. Xây dựng “thôn thông minh” cần được xem là mắt xích quan trọng trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số từ nơi gần dân, sát dân nhất. Đối với vùng DTTS&MN, đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường khả năng phục vụ người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế số và xây dựng xã hội số từ thôn bản. Nếu được triển khai đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương, “thôn thông minh” sẽ góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm ở vùng đồng bào DTTS&MN trong giai đoạn mới .
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025), Báo cáo nghiên cứu khả thi Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030.
2. Chính phủ (2025), Báo cáo số 901/BC-CP ngày 10/10/2025 tổng kết Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021- 2025.
3. Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng (2023), Quyết định số 1779/QĐ-UBND ngày 24/8/2023 ban hành Bộ Tiêu chí thôn thông minh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2023-2025.
4. Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai (2026), Quyết định số 828/QĐ-UBND ngày 27/3/2026 ban hành Bộ tiêu chí Thôn số, Thôn thông minh tạm thời trên địa bàn tỉnh Lào Cai.