Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Tri thức dân gian - Kho báu trong đời sống đồng bào vùng cao

Quang Thiện - Paul Dũng - Hoàn Trần - 15:49, 15/08/2026

(DTTG) - Được tích lũy qua nhiều thế hệ, tri thức dân gian của các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc là một kho báu sống động về sản xuất, ứng xử với thiên nhiên, chăm sóc sức khỏe, tổ chức cộng đồng và gìn giữ văn hóa. Trong bối cảnh phát triển bền vững và chuyển đổi mạnh mẽ của đời sống vùng cao, miền núi, nhận diện đúng giá trị, bảo tồn và phát huy nguồn tri thức ấy chính là cách khơi dậy một nguồn lực nội sinh quý giá…

Tri thức dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc không phải di sản văn hóa của ngày hôm qua, mà là tài sản văn hóa - xã hội có giá trị cho hôm nay và ngày mai
Tri thức dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc không phải di sản văn hóa của ngày hôm qua, mà là tài sản văn hóa - xã hội có giá trị cho hôm nay và ngày mai

Tiến sĩ Lò Giàng Páo, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Hỗ trợ Kinh tế miền núi Việt Nam cho rằng: Không có giáo trình, không có phòng thí nghiệm, cũng không được lưu giữ đầy đủ trong những trang sách, nhưng qua hàng trăm năm, các cộng đồng dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc đã tích lũy một kho tàng tri thức dân gian đặc biệt phong phú. Đó là kinh nghiệm chọn giống, canh tác trên địa hình dốc, dự báo thời tiết, sử dụng cây thuốc, bảo vệ rừng, giữ nguồn nước, chế biến thực phẩm, xây dựng nhà ở, tổ chức cộng đồng, ứng xử với thiên nhiên và truyền dạy các giá trị văn hóa dân tộc.

Có thể gọi đó là trí nhớ của cộng đồng… Tri thức dân gian không phải là những hiểu biết rời rạc. Nó được hình thành từ quá trình con người thích nghi với môi trường sống, được kiểm nghiệm qua thực tiễn và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng lời kể, quan sát, thực hành và trải nghiệm. Vì vậy, giá trị lớn nhất của tri thức dân gian nằm ở tính thực tiễn và khả năng thích ứng với điều kiện cụ thể của từng vùng đất.

Ở miền núi phía Bắc, nơi địa hình chia cắt, khí hậu phức tạp, đất sản xuất không đồng đều và đời sống của nhiều cộng đồng gắn chặt với rừng, nương, ruộng bậc thang và nguồn nước, tri thức ấy càng có ý nghĩa… Người Mông có kinh nghiệm canh tác trên những sườn núi đá, tạo nên hệ thống ruộng bậc thang và lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái. Người Dao lưu giữ nhiều kinh nghiệm về cây thuốc và sử dụng nguồn dược liệu tự nhiên. Người Tày, Nùng, Thái, Lô Lô,… có những hiểu biết phong phú về lịch mùa vụ, nguồn nước, giống cây, giống lúa, chế biến thực phẩm và tổ chức đời sống cộng đồng.

Và những kinh nghiệm ấy cho thấy, một nguyên lý quan trọng, đó là con người không chỉ thích nghi với tự nhiên, đồng thời còn học cách sống hài hòa với tự nhiên. Đây chính là giá trị đặc biệt của tri thức dân gian trong bối cảnh hiện nay.

Khi biến đổi khí hậu làm gia tăng những hiện tượng thời tiết cực đoan, khi suy giảm đa dạng sinh học và suy thoái tài nguyên trở thành những vấn đề toàn cầu, nhiều kinh nghiệm bản địa về bảo vệ rừng, giữ đất, giữ nước, sử dụng cây cỏ và tổ chức sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái có thể trở thành nguồn tham khảo hữu ích cho phát triển bền vững.

UNESCO cũng xác định tri thức và thực hành liên quan đến tự nhiên, vũ trụ là một trong những lĩnh vực của di sản văn hóa phi vật thể. Tổ chức này từng triển khai tại Việt Nam các dự án bảo vệ tri thức địa phương gắn với môi trường sinh thái của người Hà Nhì Đen ở tỉnh Lào Cai, đồng thời có dự án bảo vệ các truyền thống truyền khẩu của người Dao tại các tỉnh, như: Lào Cai, Lai Châu…

Đặc biệt, điều đó cho thấy tri thức dân gian không chỉ có ý nghĩa đối với một cộng đồng cụ thể. Nó có thể trở thành một phần của di sản văn hóa nhân loại và đóng góp cho những cách tiếp cận mới trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng.

Tri thức dân gian là hệ thống tri thức mà người dân ở một cộng đồng tích lũy và phát triển dựa trên kinh nghiệm đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn từ hàng nghìn đời nay, thường xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường văn hóa, xã hội
Tri thức dân gian là hệ thống tri thức mà người dân ở một cộng đồng tích lũy và phát triển dựa trên kinh nghiệm đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn từ hàng nghìn đời nay, thường xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường văn hóa, xã hội

Đồng thời, một giá trị khác rất đáng quan tâm, nghiên cứu là tri thức dân gian góp phần bảo đảm tính liên tục của văn hóa… Một cộng đồng có thể được nhận diện bằng trang phục hay lễ hội. Nhưng, sâu xa hơn, bản sắc nằm trong cách cộng đồng lý giải thế giới, tổ chức cuộc sống và truyền lại kinh nghiệm cho thế hệ sau. Cách chọn ngày xuống giống, cách làm nhà, cách sử dụng cây rừng, cách chế biến món ăn, cách tổ chức lễ nghi, cách hòa giải mâu thuẫn hay cách giáo dục con cháu đều chứa đựng những quan niệm về con người và xã hội.

Bởi vậy, khi một tri thức dân gian mất đi, cộng đồng không chỉ mất một kinh nghiệm sản xuất. Và họ có thể mất một phần ký ức… Một người già biết hàng chục loại cây thuốc nhưng không truyền lại cho con cháu thì khi người ấy không còn, một kho tri thức có thể biến mất theo. Một nghệ nhân biết những kỹ thuật dệt, nhuộm, chế tác truyền thống nhưng không có người học nghề, kỹ năng ấy sẽ khó tồn tại. Một người am hiểu lịch mùa vụ, nguồn nước và dấu hiệu thời tiết nhưng thế hệ trẻ không còn quan tâm, tri thức ấy có thể bị đứt gãy… Đây là thách thức rất đáng lưu tâm trong quá trình hiện đại hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói chung và miền núi phía Bắc nói riêng.

Nhưng bảo tồn tri thức dân gian không có nghĩa là giữ nguyên mọi tập quán và đặt chúng ra ngoài sự vận động của xã hội. Cần có cách tiếp cận khoa học: tôn trọng tri thức cộng đồng, nghiên cứu, kiểm chứng, chọn lọc và phát huy những giá trị phù hợp với đời sống hiện đại.

Nhiều đồng bào dân tộc thiểu số nắm giữ kỹ thuật làm ruộng bậc thang, điển hình là người Mông, La Chí, Dao, Tày, Nùng, Cờ Lao, Phù Lá, Hà Nhì... Ruộng bậc thang được tạo nên từ chính sức lao động, bàn tay, khối óc, kinh nghiệm được tích lũy, công cụ lao động đơn giản như dao, cuốc, xẻng, xà beng, cày, bừa mà không cần đến nhiều sự trợ giúp của máy móc hiện đai
Ruộng bậc thang được tạo nên từ tri thức dân gian được đúc kết từ thế hệ này sang thế hệ khác

Theo đó, đây là điểm cần đặc biệt nhấn mạnh. Tri thức dân gian có thể chứa đựng những kinh nghiệm quý, nhưng không phải mọi kinh nghiệm truyền thống đều mặc nhiên đúng trong mọi hoàn cảnh. Một số phương thức sản xuất có thể không còn phù hợp; một số tập quán có thể cần điều chỉnh; một số kinh nghiệm dân gian cần được khoa học hiện đại kiểm chứng trước khi phổ biến rộng rãi.

Vì vậy, cách tiếp cận phù hợp không phải là khoa học thay thế tri thức dân gian, mà là tạo ra sự đối thoại giữa hai hệ thống tri thức.

Khoa học hiện đại có công nghệ, phương pháp đo lường và khả năng kiểm chứng.

Tri thức địa phương có kinh nghiệm địa phương, hiểu biết sâu về môi trường và khả năng nhận biết những biến đổi mà người sống lâu năm trong cộng đồng có thể cảm nhận rất sớm.

Khi kết hợp hai nguồn lực ấy, hiệu quả bảo tồn và phát triển có thể được nâng lên.

Đặc biệt, tri thức dân gian có thể trở thành nguồn lực kinh tế nếu được khai thác đúng hướng.

Những kinh nghiệm về cây thuốc có thể gắn với phát triển sản phẩm dược liệu và du lịch chăm sóc sức khỏe, trên cơ sở khoa học và pháp luật. Tri thức về ẩm thực có thể trở thành nền tảng cho sản phẩm du lịch cộng đồng. Nghề thủ công truyền thống có thể phát triển thành sản phẩm hàng hóa đặc trưng. Kinh nghiệm canh tác địa phương có thể kết hợp với nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ và các mô hình sản xuất thích ứng khí hậu.

Nhưng điều quan trọng là cộng đồng phải được hưởng lợi và giữ vai trò chủ thể… Và không thể chỉ khai thác tri thức của cộng đồng để tạo ra sản phẩm rồi để cộng đồng đứng ngoài chuỗi giá trị. Vì vậy, việc phát huy tri thức dân gian phải đi cùng bảo vệ quyền lợi, quyền tham gia và quyền hưởng lợi của những người đã gìn giữ tri thức ấy qua nhiều thế hệ.

Đây cũng là cách biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh, thay vì chỉ xem văn hóa dân tộc như một đối tượng bảo tồn.

Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay, tri thức dân gian còn đứng trước một cơ hội mới. Những câu chuyện của nghệ nhân, kỹ thuật chế tác, bài thuốc dân gian, lịch mùa vụ, tri thức về cây cỏ, địa danh văn hóa và kinh nghiệm sản xuất có thể được ghi âm, ghi hình, lập hồ sơ và số hóa. Những kho tri thức cộng đồng có thể giúp thế hệ trẻ tiếp cận di sản dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, việc số hóa không thể thay thế truyền dạy trực tiếp. Một video có thể lưu lại động tác của nghệ nhân, nhưng không thể thay thế người thầy. Và một cơ sở dữ liệu có thể lưu tên một loại cây thuốc, nhưng không thể tự truyền tải toàn bộ kinh nghiệm sống cùng khu rừng.

Do đó, công nghệ cần được xem là công cụ bảo tồn và lan tỏa, còn cộng đồng vẫn phải là chủ thể.

Thực tế, UNESCO ghi nhận nhiều di sản của Việt Nam có sự tham gia trực tiếp của các cộng đồng thực hành; Then của người Tày, Nùng, Thái được ghi danh năm 2019 và nghệ thuật Xòe của người Thái được ghi danh năm 2021. Những trường hợp này cho thấy sức sống của di sản văn hoá gắn chặt với khả năng truyền dạy và thực hành trong cộng đồng.

Với miền núi phía Bắc, bảo tồn tri thức dân gian vì thế cần bắt đầu từ việc nhìn nhận đúng giá trị của người nắm giữ tri thức. Người già, nghệ nhân, thầy thuốc dân gian, người sản xuất giỏi, người am hiểu phong tục và những người có uy tín trong cộng đồng cần được coi là những kho dữ liệu sống. Họ là đối tượng sưu tầm, đồng thời phải trở thành chủ thể tham gia truyền dạy và phát huy tri thức.

Cùng với đó, cần đưa tri thức địa phương vào giáo dục phù hợp; tổ chức các lớp truyền nghề; xây dựng không gian thực hành văn hóa; kết nối tri thức bản địa với nghiên cứu khoa học; hỗ trợ cộng đồng phát triển sản phẩm văn hóa, du lịch và sinh kế dựa trên những giá trị sẵn có.

Đặc biệt, chúng ta cần tạo cơ chế để người trẻ trở thành lực lượng kế thừa.

Một thế hệ trẻ biết sử dụng công nghệ nhưng hiểu văn hóa quê hương sẽ có khả năng đưa tri thức dân gian bước vào không gian mới bằng một tâm thế khác. Họ có thể biến những câu chuyện của ông bà thành sản phẩm truyền thông; biến nghề truyền thống thành thương hiệu; biến món ăn thành sản phẩm du lịch; biến tri thức về thiên nhiên thành nội dung giáo dục môi trường.

Khi đó, tri thức dân gian không còn chỉ là ký ức.

Và nó trở thành nguồn lực cho hiện tại và tương lai.

Nếu xét ở quan điểm khoa học phát triển, giá trị lớn nhất của tri thức dân gian chính là khả năng kết nối ba yếu tố, đó là con người - văn hóa - thiên nhiên. Nó giúp cộng đồng hiểu môi trường sống, tổ chức sản xuất, duy trì quan hệ xã hội và truyền lại bản sắc.

Đã từ lâu ruộng bậc thang trở thành hình thức canh tác độc đáo, tạo nên nét truyền thống đậm bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nhiều tỉnh vùng cao phía Bắc
Đã từ lâu ruộng bậc thang đã trở thành hình thức canh tác độc đáo của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao phía Bắc

Trong một thời đại mà nhiều giá trị có nguy cơ bị đồng nhất hóa, tri thức dân gian giúp mỗi cộng đồng giữ được tiếng nói riêng. Trong một thời đại mà phát triển bền vững trở thành yêu cầu cấp thiết, những kinh nghiệm được tích lũy từ quá trình sống lâu dài với thiên nhiên lại càng đáng được nghiên cứu.

Vì vậy, tri thức dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc không phải di sản văn hóa của ngày hôm qua, mà là tài sản văn hóa - xã hội có giá trị cho hôm nay và ngày mai.

Việc giữ gìn tri thức ấy không chỉ để nhớ về quá khứ. Và việc phát huy tri thức ấy là để cộng đồng có thêm nguồn lực phát triển.

Và khi tri thức của cha ông được gặp gỡ với khoa học, công nghệ, giáo dục và thị trường hiện đại, kho báu nằm trong ký ức cộng đồng có thể trở thành một nguồn sức mạnh mới, góp phần xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển bền vững, giàu bản sắc văn hoá và chủ động bước vào tương lai./.