Chùa Peam Buôl Thmây tại phường Sóc Trăng, thành phố Cần ThơTừ khóa: Giá trị văn hóa; Phật giáo Nam tông; Khmer Nam Bộ.
1. Đặt vấn đề
Suốt hai ngàn năm du nhập và phát triển tại Việt Nam, Phật giáo đã trở thành một trong những tôn giáo lớn và có tầm ảnh hưởng vô cùng sâu rộng tới quần chúng nhân dân. Đạo Phật luôn hoạt động trên tinh thần đồng hành cùng dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu chung “Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Trên toàn lãnh thổ Việt Nam hiện nay có sự tồn tại của những tổ chức Giáo hội khác nhau, nhiều giáo phái có đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói chung, trong đó có Phật giáo Nam tông. Phật giáo Nam tông phát triển mạnh mẽ và gắn bó chặt chẽ với người dân Khmer vùng Nam Bộ. Phật giáo Nam tông cũng đã tạo ra một hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị tốt đẹp cần được nghiên cứu, gìn giữ và phát huy. Có thể thấy, với tôn chỉ: “Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức; đồng thời vẫn tôn trọng và duy trì các truyền thống hệ phái, cũng như các pháp môn và phương tiện tu hành đúng chánh pháp”, Phật giáo Nam tông có cơ sở điều kiện để lớn mạnh và đóng góp to lớn hơn nữa cho sự nghiệp của Việt Nam.
2. Lịch sử hình thành của Phật giáo Nam tông
Phật giáo Nam tông được truyền bá vào Việt Nam theo đường biển, xuất phát từ các nhà truyền giáo người Ấn. Con đường truyền đạo từ Ấn Độ tới Mianma, Thái Lan tới Campuchia - vùng sông Mê Kông và du nhập vào vùng các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long (phía Nam) của Việt Nam, như Vĩnh Long và một số tỉnh lân cận hiện nay. Đây cũng là nơi cư ngụ của rất nhiều người dân tộc Khmer. Phật giáo Nam tông mộc mạc, gần gũi và từng bước thâm nhập, gắn bó với đồng bào Khmer nơi đây. Vì vậy được đông đảo người dân dân tộc Khmer đón nhận, nó dường như đã trở thành tôn giáo tiêu biểu của người Khmer, do đó còn gọi là Phật giáo Nam tông Khmer. Bằng chứng là nhiều pho tượng cổ được lưu giữ tới hiện tại cho thấy Phật giáo qua đường cửa sông Cửu Long đã du nhập vào các tỉnh Nam Bộ.
Cùng với đó, chúng ta thấy lịch sử ghi nhận ngay từ thế kỷ thứ IV đã có sự xây dựng của một số ngôi chùa như chùa Tropangveng, chùa Tà Lôn (Vĩnh Long) và hàng trăm các ngôi chùa khác. Như vậy có thể khái quát sự có mặt của Phật giáo Nam tông ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là rất sớm, gắn liền với quá trình sinh tồn và phát triển của đồng bào Khmer. Đây cũng là mảnh đất có sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo Nam tông trên cả nước. Phật giáo Nam tông được coi là hệ phái Phật giáo nguyên thủy bởi giới luật nghiêm khắc và đọc chú tụng chủ yếu theo năm bộ kinh khởi đầu.
3. Những giá trị văn hóa tốt đẹp của Phật giáo Nam tông Khmer
Tín ngưỡng và giáo lý
Phật giáo Nam tông Khmer rất gần gũi với Phật giáo Nguyên thủy, mang trong mình những giá trị văn hóa tín ngưỡng trong sáng, thiết thực, vì đời sống bình yên, an lạc của con người. Hệ phái này không tuyệt đối hóa vai trò của tín ngưỡng siêu nhiên thần bí, dễ làm con người lầm tưởng vào tha lực của thần giáo mà sinh ra những biến tướng mê tín dị đoan. Dù vậy, do văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng đa thần Ấn Độ và Trung Hoa cùng sự biến đổi của thực tiễn xã hội khiến con người dễ tìm đến tôn giáo để làm chỗ dựa tinh thần, nhưng một số bộ phận con người lại có những biểu hiện cực đoan, mê tín xem Phật là đấng thần linh vạn năng có thể làm thay đổi cuộc sống con người từ họa, phúc, dữ, lành. Điều này đã làm ảnh hưởng tới nét đẹp văn hóa chân chính của Phật giáo.
Phật giáo Nam tông phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng dân tộc Khmer nói riêng, vùng đất Nam Bộ nói chung chính là minh chứng cho sức sống lâu bền, giá trị hệ tư tưởng tôn giáo chân chính phù hợp với con người Việt Nam, nó đóng vai trò làm cầu nối truyền đạt lại những lời dạy của Đức Phật Thích Ca. Từ đó giúp cho những chư tăng, tín đồ Phật giáo nhận thức ra chân lý trong đời sống thực tế, nhận ra được mục đích đích thực trong cuộc sống của con người là sự yên vui và tìm thấy con đường đúng đắn giúp giải thoát khỏi sự mê lầm, vô minh, sân si.
Phật giáo Nam tông đặc biệt tuân theo giáo lý của Phật giáo nguyên thủy được thể hiện qua giáo lý Tứ Diệu đế và Bát Chánh đạo. Trong đó “nổi bật nhất là pháp thiền Tứ Niệm xứ, trở về soi sáng thân tâm chính mình trong diễn trình tương giao với thế giới bên ngoài, tại đây và bây giờ, như tấm gương trong sáng và phản ánh trung thực vạn pháp, đầy đủ tính tướng, trong ngoài một cách toàn diện không thiên lệch”. Ngày nay, Phật giáo Nam tông với việc giữ gìn nguyên bản và truyền bá giáo lý nguyên thủy là những đóng góp quý báu cho Phật giáo Việt Nam, cho lối sống văn hóa đạo đức của không chỉ các tu sĩ mà còn cho đại bộ phận người dân tộc Khmer và Nhân dân cả nước trên con đường tu học hướng tới sự giác ngộ và an lạc trong cuộc sống.
Y phục của Phật giáo Nam tông
Y phục của các tu sĩ giáo phái Nam tông Khmer là đại diện cho nét văn hóa Phật giáo Nguyên thủy. Hiện nay, áo cà sa được thiết kế giống hình thửa ruộng, có ngăn ngang dọc, dài ngắn từng ô khác nhau để phù hợp với hình thể của mỗi vị chư tăng. Cụ thể y phục được quy định từ y 5 điều, y 7 điều, y 9 điều, y 11 điều, tùy theo chiều cao của người mặc. Về màu sắc chủ yếu có hai màu là màu vàng đục và màu vàng nghệ. Khi ra ngoài, y phục của chư tăng không được để hở vai và tay mà được che đậy bởi vạt áo cà sa và trần tự cách thức mặc y phục. Bên cạnh trang phục áo cà sa thì tu sĩ Phật giáo Nam tông còn đi cùng bình, bát. Đây được xem là hình ảnh biểu trưng, thành phần quan trọng đối với đời sống của người xuất gia. Y phục để khoác lên che thân, bình bát là dụng cụ đơn giản mộc mạc nhất để người tu hành khất thực.
Ngày nay, bóng cà sa của các chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer vùng Nam Bộ vẫn được duy trì theo truyền thống giáo phái đã gợi lên hình ảnh gần gũi, giản dị mà thoát tục như chính đời sống của Đức Phật xưa kia. Từ màu sắc vàng như màu của đất rất bình dị tạo cảm giác hiền hòa, thanh cao, phần nào đó giúp con người thư thái tâm hồn, tránh được ham muốn tham - sân - si, sống bao dung nhân ái hơn. Chư tăng Nam tông khoác áo cà sa, đi khất thực với một chiếc bình - bát chỉ để duy trì sự sống của thân, ngày ngày xả bỏ tiền tài vật chất để tu tâm theo Phật, một lòng hướng đạo cho thấy bản chất văn hóa cốt lõi của đạo Phật tất cả là vì cuộc sống bình yên của loài người. Do sự vận động biến đổi của đời sống xã hội hiện đại, hình thức tu hành khất thực ngày nay giờ có nhiều phần chỉ mang hình tướng bên ngoài nhưng nó cũng đã góp phần không nhỏ vào việc khẳng định tu sĩ một lòng nguyện ý vâng theo lời Phật dạy, bảo tồn chính pháp, đem lại bình yên an lạc cho đời.
Nghi lễ
Nghi lễ Phật giáo Nam tông tồn tại và phát triển gắn liền với văn hóa dân tộc Khmer. Các nghi lễ lớn như lễ Phật đản, xuất gia, nhập hạ, ra hạ, dâng y,… được thực hiện rất trang trọng. Bên cạnh đó, những nghi thức của Phật giáo Nam tông còn hiện diện ở những ngày lễ, hội của người dân Khmer như lễ tế, lễ cúng ông bà, đua ghe, cúng trăng, đắp núi… Điều này cho thấy sự đan xen, thâm nhập vào nhau của nền văn hóa Phật giáo và văn hóa dân cư Nam Bộ. Vì vậy mà người Khmer Nam Bộ cũng rất coi trọng Phật giáo Nam tông, coi đó như tôn giáo của chính mình, giữ gìn và truyền bá những nét đẹp văn hóa cho con cháu đời sau. Phật giáo Nam tông đề cao lối sống mộc mạc, bình dị, không đặt nặng nghi lễ; tuy nhiên hệ phái này đặc biệt quan tâm đến việc trì chú giữ giới như: “Tôn kính, chào hỏi: Theo hạ lạp nhưng không đón rước quá trịnh trọng như phong kiến. Trai tăng: Không thọ thực quá ngọ, theo hình thức tam tịnh nhục (không chay không mặn). Tụng kinh: Không dùng chuông mõ, đễ đọc, dễ nghe. Không xướng tán ngân nga. Tôn tạo và chiêm bái duy nhất Phật Gautama (Đức Phật Tổ Như Lai). Chỉ dâng hương hoa để tỏ lòng thành kính chứ không dâng cúng vật thực. Không cúng sao hạn, chuẩn tế, không bói toán coi ngày tốt xấu. Đi khất thực không nhận tiền bạc, chỉ nhận vật thực đã chín, do thí chủ tự nguyện dâng cúng, không mở lời xin hay nói khéo để người phải cho”.
Về nghi lễ chính thường nhật tại chùa Nam tông Khmer thì mỗi ngày có hai thời tụng kinh lễ bái Tam bảo vào buổi sáng và buổi chiều. Nghi lễ cúng của Phật giáo Nam tông hiện nay thể hiện tính tích cực, thường được tổ chức trang nghiêm, ngắn gọn, đảm bảo văn hóa của giáo phái và phù hợp với đời sống người dân, đời sống xã hội hiện đại.
Chùa Xiêm Cán tại tỉnh Cà MauKiến trúc thẩm mỹ chùa Phật giáo Nam tông Khmer
Trong sóc (làng) hay phum (nhiều phum hợp thành sóc) của người Khmer Nam Bộ hầu hết đều có xây dựng chùa “không gian văn hóa tâm linh” quan trọng của người dân nơi đây.
Kiến trúc ngôi chùa là một di sản văn hóa vật thể độc đáo, ấn tượng của Phật giáo Nam tông, nó được tập trung chủ yếu ở khu chính điện. Không gian ngôi chùa rộng lớn, ngoài chính điện còn bao gồm các khu vực như: cổng chùa, sa la, nhà tháp, nhà thiêu, dãy ở nhà cho tăng ni, phật tử… Kiến trúc xây dựng của nhiều ngôi chùa đa dạng, kiểu dáng không theo khuôn mẫu nhất định và được xem là những công trình nghệ thuật tiêu biểu bởi kỹ nghệ điêu khắc công phu, cách thức trang trí tỉ mỉ. Cổng chùa thường được thiết kế khá quy mô với nhiều ngọn tháp đồ sộ, trang trí hoa văn tinh xảo, như chùa Phướn; lan can hai phía tả hữu của cổng chùa được chạm trổ hình rắn 7 đầu theo hình thức của cổng đền Angkor. Có những chùa trên cổng tạo hình của Raehu, hai bên là hình ảnh của rắn thần Naga hoặc điêu khắc hình người đua ghe Ngo của phong tục Chămpa. Bước vào trong cổng chùa là chính điện - được xem là không gian quan trọng nhất của chùa. Theo quan niệm của người Khmer Nam Bộ, Đức Phật xưa kia ở quay mặt về hướng Đông cứu độ chúng sinh nên chính điện của chùa được xây dựng quay mặt về hướng Đông. Trong điện, vị trí chính là bệ thờ Phật Thích Ca, phía dưới bệ được trang trí với đài hoa sen biểu tượng của Phật giáo nhân loại. Tượng Phật được điêu khắc rất tỉ mỉ, vừa thể hiện sự uy nghiêm, quyền lực, trí tuệ và lòng từ bi đức độ của Ngài. Các mặt tường trong không gian chính điện còn được trang trí bởi hình vẽ để mô tả cuộc đời Đức Phật từ lúc sơ sinh cho đến khi thành đạo, trên trần cũng thường được vẽ lại cảnh giao đấu giữa các Tiên nữ và Chằn, cảnh Tiên làm lễ, cảnh Aùpsara dâng hoa… những chi tiết này được trang trí với màu sắc nổi bật sặc sỡ. Nhìn chung, kiến trúc chùa Phật giáo Nam tông Khmer hiện nay đơn giản nhưng “mang đậm dấu ấn, bản sắc văn hóa, nghệ thuật riêng của hệ phái Nam tông như chùa Kỳ Viên, chùa Bửu Thắng (TP. Hồ Chí Minh), chùa Tam Bảo (Đà Nẵng), chùa Thiền Lâm, chùa Huyền Không (Huế), chùa Phước Hải (Vũng Tàu), chùa Thiền Quang (Long Thành), chùa Bửu Đức (Đồng Nai). Đặc biệt, hệ phái Nam tông đã xây dựng được thắng cảnh Thích Ca Phật Đài khá quy mô và nổi tiếng”.
Người Khmer Nam Bộ theo tín ngưỡng Phật giáo Nam tông đặc biệt sâu sắc và được thể hiện rõ nét qua những quan niệm và trong đời sống thực tiễn. Hiện nay, bất cứ người con trai Khmer nào khi đến khoảng 12 - 13 tuổi cũng được đưa vào chùa để tu hành một thời gian, lâu dài hoặc có thể là suốt đời. Cánh cửa chùa luôn là nơi mở rộng để đón người dân Khmer vào học tập, tu dưỡng. Theo người dân nơi đây, họ tu học để thành kính với Đức Phật, làm tròn đạo hiếu với ông bà cha mẹ, học lối sống đạo đức và những tri thức cần có để bước ra cuộc sống. Ở đây, sau khi người dân tu một thời gian và xuất tu thì sau đó họ vẫn có thể quay lại để tiếp tục thực hành nghi thức tu học trong chùa. Đối với người dân Khmer, những người nam giới khi trải qua quãng thời gian ở trong chùa sẽ được đánh giá cao hơn và có điều kiện để thực hiện những công việc, mong muốn trong cuộc sống dễ dàng, tốt đẹp hơn.
Theo truyền thống Phật giáo Nam tông Khmer, trái lại với quan niệm con trai phải vào chùa tu học thì người nữ lại không thực hành nghi thức này. Dù vậy, sau này thông qua truyền thống gia đình, qua nếp sống của người đàn ông trong gia đình thì những người phụ nữ Khmer lại chịu ảnh hưởng và sự quy định, giáo dục bởi tư tưởng, giáo lý, đạo đức Phật giáo rất sâu sắc. Nó được thể hiện qua những nghi lễ truyền thống của người Khmer mang đậm dấu ấn tín ngưỡng Phật giáo Nam tông: lễ Chol Chnam Thmay (tương tự như tết nguyên đán ở nước ta), lễ dâng y, dâng cúng vật phẩm cho chư tăng, dâng cơm cho sư sãi, thể hiện việc làm thiện, làm phúc của người dân Khmer,… Tại những buổi lễ, hội của nhà chùa hay của người dân Khmer chúng ta đều thấy xuất hiện nhiều lễ thức Phật giáo đan xen như sự thuyết giảng giáo lý của nhà sư, mọi người cùng vào chùa, đọc kinh, thả đèn lồng,…
Ngôi chùa và những vị sư phái Phật giáo Nam tông có vị trí và ảnh hưởng rất lớn tới tư tưởng và đời sống của người dân tộc Khmer. Nhà chùa vừa là nơi tu hành của nhà sư cũng chính là đại đa số người con dân tộc Khmer, vừa trở thành nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng thường xuyên và độc đáo của đồng bào Khmer. Ngôi chùa còn là nơi giáo dục tri thức, triết lý sống cho trẻ em, nơi lữu trữ những kỷ vật tiêu biểu của người dân Khmer, còn là nơi thờ cúng người thân trong gia đình đã mất. Người dân nơi đây rất tôn kính và coi trọng những bài truyền dạy của nhà sư. Những nét sinh hoạt thường nhật của đồng bào dân tộc Khmer đều gắn với tín ngưỡng đạo Phật, Phật giáo Nam tông đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm và lối sống của người Khmer Nam Bộ.
4. Kết luận
Những dấu ấn đậm nét của Phật giáo Nam tông trong một thời gian dài ở vùng đồng bằng Nam Bộ đã thấm nhuần và tạo nên nét văn hóa đặc trưng riêng có của cộng đồng người dân Khmer nơi đây. Có thể nói, ở đây, Phật giáo Nam tông xứng đáng là tôn giáo lớn của người Khmer, và nhắc tới cộng đồng Khmer là nhắc tới tuyệt đại đa số tăng ni, tín đồ của Phật giáo Nam tông. Văn hóa Phật giáo Nam tông cùng với tộc người Khmer thể hiện của nền văn hóa truyền thống khó bị tác động, biến dạng và phai nhạt bởi những yếu tố ngoại lai. Ngược lại, văn hóa tín ngưỡng và đời sống người dân nơi đây còn khẳng định sức sống bền vững, nương tựa vào nhau và lan tỏa giá trị mạnh mẽ tới nền Phật giáo chung của cả nước. Vì vậy, trong nhịp sống hiện đại ngày nay, việc tìm tòi, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa tín ngưỡng tôn giáo sẽ mang ý nghĩa rất lớn cho sự phát triển của con người và dân tộc Việt Nam .
* Học viện Báo chí và Tuyên truyền cơ sở tại thành phố Huế
Tài liệu tham khảo
1. Châu Đạt Quang, Du Ký, Nguyễn Văn Sáu, Bước đầu tìm hiểu Phật giáo Nam tông Việt Nam, trang 14, Nxb Tôn giáo, 2007.
2. Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tu chỉnh lần thứ VI, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2018.
3. Thiện Minh, Lược sử Phật giáo Nam tông Việt Nam, Nxb Hồng Đức, 2017.
4. Lê Hương, Người Việt gốc Miên, Nxb Văn Đàn, 1969.