Nghệ thuật Xòe Thái - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loạiTừ khóa: Giá trị văn hóa; Dân tộc thiểu số; Quốc phòng; An ninh; Vùng biên giới; Thế trận lòng dân; Đại đoàn kết toàn dân tộc
1. Đặt vấn đề
Việt Nam gồm 54 dân tộc, trong đó 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,1% dân số. Hệ giá trị văn hóa phong phú của đồng bào DTTS không chỉ bồi đắp lòng yêu nước, làm phong phú nền văn hóa nước nhà, mà còn là nền tảng chính trị - tinh thần cốt lõi trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Thời gian qua, các chủ trương của Đảng và Nhà nước, trọng tâm là các Chương trình Mục tiêu quốc gia cùng sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành và lực lượng vũ trang, đặc biệt là Bộ đội Biên phòng đã cải thiện toàn diện đời sống nhân dân. Các chủ trương, chính sách này đã giúp kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống với phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh vùng biên giới. Tuy nhiên, trước tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và kinh tế thị trường, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang đối mặt với nguy cơ mai một. Đáng chú ý, các thế lực thù địch liên tục lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết tại các địa bàn chiến lược. Trước bối cảnh đó đòi hỏi một tư duy mới: phát huy giá trị văn hóa các DTTS không chỉ dừng lại ở bảo tồn di sản, mà phải nâng tầm thành giải pháp chiến lược nhằm xây dựng “thế trận lòng dân”, gia tăng sức mạnh nội sinh và củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới.
2. Giá trị văn hóa các DTTS và vai trò đối với xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh vùng biên giới ở Việt Nam hiện nay
2.1. Giá trị văn hóa DTTS góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nền tảng của nền quốc phòng toàn dân và thế trận lòng dân
Theo báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đến năm 2025 cả nước có gần 40 di sản văn hóa được UNESCO ghi danh, trong đó nhiều di sản thuộc cộng đồng DTTS như: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Nghệ thuật Xòe Thái, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm... Nhiều di sản của đồng bào như: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên hay Nghệ thuật Xòe Thái được UNESCO vinh danh là minh chứng sống động cho chính sách đại đoàn kết dân tộc đúng đắn của Đảng và Nhà nước, mang lại niềm tự hào to lớn cho dân tộc Việt Nam. Đây là bằng chứng đanh thép phản bác luận điệu vu cáo Việt Nam “đồng hóa văn hóa” hay “chèn ép dân tộc” từ các thế lực thù địch.
Như vậy, giá trị văn hóa các DTTS vùng biên giới không dừng lại ở những giá trị tinh thần thuần túy, mà mang tính chiến lược trong hệ thống quốc phòng toàn dân.
2.2. Giá trị văn hóa góp phần nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia, làm thất bại các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và văn hóa để chống phá Đảng, Nhà nước ta
Đối với đồng bào DTTS, biên giới không chỉ là đường ranh giới hành chính mà còn là không gian sinh tồn gắn bó với lịch sử và bản sắc cộng đồng. Trên cơ sở đó, nhiều mô hình quần chúng tham gia bảo vệ biên giới được hình thành và phát huy hiệu quả, như: “Tổ tự quản đường biên, cột mốc”, “Dòng họ tự quản”, “Bản bình yên” tiếp tục phát huy hiệu quả trong thực tiễn. Theo báo cáo của Đảng ủy Bộ đội Biên phòng, tính đến nay, lực lượng Bộ đội Biên phòng đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền 553 xã biên giới thuộc 30 tỉnh, thành phố xây dựng và duy trì ổn định 2.702 tổ tự quản, thu hút tới 45.638 hộ gia đình cùng 114.276 cá nhân tự nguyện đăng ký quản lý, bảo vệ khoảng 4.702,164 km đường biên giới và 3.613 mốc quốc giới.
Những con số biết nói này là minh chứng đanh thép cho sức mạnh của văn hóa khi được khơi dậy đúng hướng, biến mỗi người dân thành một “cột mốc sống”, tạo nên lá chắn nhân dân kiên cố bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
2.3. Giá trị văn hóa tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, qua đó tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh
Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, việc biến di sản thành tài sản đã trở thành đòn bẩy kinh tế chiến lược tại các vùng “‘phên dậu” của Tổ quốc. Nhiều địa phương như: Sa Pa (Lào Cai), Cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), Kon Tum và An Giang đã khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống để phát triển du lịch cộng đồng và các sản phẩm làng nghề địa phương, góp phần nâng thu nhập bình quân tại nhiều làng văn hóa du lịch biên giới đạt từ 50-70 triệu đồng/người/năm, đặc biệt có những hộ đạt doanh thu 200-300 triệu đồng/năm. Khi đời sống kinh tế ổn định, tình trạng di dịch cư tự do bị đẩy lùi, đồng bào an tâm bám đất giữ làng, tự nguyện kết hợp cùng các lực lượng vũ trang xây dựng “thế trận lòng dân” kiên cố, biến mỗi bản làng văn hóa thành một pháo đài vững chắc bảo vệ chủ quyền biên cương và tạo nền tảng xã hội ổn định.
3. Thực trạng phát huy giá trị văn hóa các DTTS góp phần xây dựng và củng cố quốc phòng an ninh vùng biên giới ở Việt Nam hiện nay
3.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, nhận thức về vai trò của văn hóa trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được nâng lên rõ rệt. Việc thể chế hóa các quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa đã tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của cấp ủy, chính quyền và nhân dân vùng biên giới. Nhiều địa phương xác định bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững và xây dựng khu vực phòng thủ. Điển hình như tại tỉnh Hà Giang (cũ) đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 06/10/2021 về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Hà Giang giai đoạn 2021-2025. Theo đó, Hà Giang đã xác định rõ việc gắn kết giữa giữ gìn bản sắc với xây dựng khu vực phòng thủ biên giới bền vững. Đồng bào người Lô Lô, người Mông tại các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (cũ) đã phối hợp với Bộ đội Biên phòng mở các lớp truyền dạy chữ viết, nghề thủ công cho thế hệ trẻ ngay tại bản làng vùng biên.
Hay tại tỉnh Kon Tum, đồng bào Gia Rai, Ba Na đã khéo léo lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ cột mốc, đường biên vào hương ước, luật tục của buôn làng, biến luật tục giữ đất của cha ông thành công cụ sắc bén bảo vệ an ninh biên giới. Những hành động tự giác này là minh chứng đanh thép cho thấy văn hóa đã thực sự chuyển hóa thành nhận thức chính trị, tạo nền tảng tinh thần kiên cố vững chắc nơi tuyến đầu Tổ quốc.
Thứ hai, hệ thống thiết chế văn hóa và môi trường văn hóa ở vùng biên giới từng bước được củng cố. Thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi, nhiều thiết chế văn hóa cơ sở được đầu tư xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao quần chúng phát triển. Đến cuối năm 2025, trên 90% số xã vùng đồng bào DTTS đã có nhà văn hóa hoặc điểm sinh hoạt cộng đồng, tạo điều kiện để người dân tổ chức các hoạt động bảo tồn văn hóa truyền thống. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được triển khai sâu rộng, góp phần giữ gìn các giá trị đạo đức truyền thống, từng bước loại bỏ hủ tục lạc hậu và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh ở khu vực biên giới.
Thứ ba, nhiều giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy gắn với phát triển kinh tế - xã hội. Theo báo cáo tổng kết Chương trình MTQG 1719, giai đoạn 2021–2025, kết quả triển khai Dự án 6 thuộc Chương trình MTQG đã phục dựng hơn 120 lễ hội truyền thống, kiểm kê hơn 2.500 làn điệu dân ca, dân vũ và thành lập hơn 700 câu lạc bộ văn hóa tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hoạt động này gắn với phát triển du lịch, chuẩn hóa hơn 1.200 sản phẩm OCOP và tạo việc làm cho hơn 25.000 lao động, giúp nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững.
Điển hình như tại tại Lào Cai, Mô hình du lịch sinh thái gắn với tri thức bản địa người Dao đỏ thôn Tả Phìn (Sa Pa) vừa bảo tồn nghề thuốc cổ truyền vừa tạo việc làm ổn định. Vùng chiến lược Tây Nguyên ghi nhận điểm sáng từ Mô hình Làng du lịch cộng đồng Kon Kơ tu (Kon Tum) và Buôn Akô Dhông (Đắk Lắk), nơi không gian văn hóa cồng chiêng và nhà dài được phát huy mạnh mẽ, trở thành những “pháo đài văn hóa” cố kết cộng đồng vững chắc…
3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
Về hạn chế: Hạn chế thứ nhất là văn hóa truyền thống nguy cơ mai một lớn. Dưới tác động của hội nhập và công nghệ số, một bộ phận giới trẻ giảm hẳn việc sử dụng tiếng mẹ đẻ và mặn mà với di sản địa phương. Nhiều lễ hội bị thương mại hóa, trong khi các loại hình nghệ thuật dân gian thiếu lực lượng kế cận.
Hạn chế thứ hai là nguồn lực và hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Thu nhập vùng đồng bào DTTS và miền núi chỉ bằng 1/3 mức bình quân toàn quốc; vùng miền núi chiếm trên 50% hộ ng hèo đa chiều khiến người dân chưa thể toàn tâm bảo tồn di sản. Thêm vào đó, 20% - 30% thôn bản biên giới chưa có nhà văn hóa đạt chuẩn. Công tác số hóa di sản mới đạt 20% - 25% do nguồn vốn mới đáp ứng 40% nhu cầu, hệ thống dữ liệu giữa các ngành thiếu đồng bộ.
Hạn chế thứ ba là, sự gắn kết giữa văn hóa với quốc phòng, an ninh còn lỏng lẻo. Nhiều nơi chỉ thiên về trình diễn văn hóa bề nổi, chưa lồng ghép vào giáo dục truyền thống, nâng cao ý thức chủ quyền hay đấu tranh phản bác luận điệu sai trái. Phối hợp liên ngành thiếu chiều sâu.
Về nguyên nhân: Nguyên nhân khách quan: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng đồng bào DTTS và miền núi còn nhiều khó khăn; quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi số vừa tạo cơ hội, vừa đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo tồn văn hóa. Nguyên nhân chủ quan: nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về vai trò của văn hóa trong xây dựng quốc phòng, an ninh chưa đầy đủ; việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng còn thiếu đồng bộ; nguồn lực đầu tư và chất lượng đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu; công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ chưa theo kịp sự phát triển của truyền thông số.
4. Một số giải pháp phát huy giá trị văn hóa các DTTS góp phần xây dựng và củng cố quốc phòng an ninh vùng biên giới ở Việt Nam hiện nay
4.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của giá trị văn hóa các DTTS đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, quyết định hiệu quả của các giải pháp khác. Ngày 07/01/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 80-NQ/ TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết nêu rõ: “Phát huy vai trò nền tảng của văn hoá trong việc hình thành bản lĩnh, “sức đề kháng” trước các tác động phức tạp và lệch chuẩn của văn hoá ngoại lai; giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun đắp niềm tự hào và khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước”.
Trên tinh thần đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại; coi phát huy giá trị văn hóa các DTTS là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững vùng biên giới. Từ việc xem văn hóa DTTS là đối tượng thụ động cần bảo tồn sang nhìn nhận văn hóa như một nguồn lực nội sinh cấu thành nên hệ thống phòng thủ biên cương.
4.2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa gắn với củng cố quốc phòng, an ninh
Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách theo hướng bảo đảm sự thống nhất giữa chính sách văn hóa, chính sách dân tộc với chính sách quốc phòng, an ninh; lồng ghép mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương biên giới. Bên cạnh đó, cần ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở; quan tâm bảo tồn tiếng nói, chữ viết, lễ hội, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công truyền thống và tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số. Đồng thời, có cơ chế phù hợp nhằm phát huy vai trò của nghệ nhân, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong việc truyền dạy, gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống, góp phần xây dựng nền tảng chính trị - tinh thần vững chắc ở cơ sở.
4.3. Gắn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số
Thực tiễn cho thấy, bảo tồn văn hóa chỉ thực sự bền vững khi gắn chặt với nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Vì vậy, cần tiếp tục triển khai hiệu quả các Chương trình Mục tiêu quốc gia, ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng, giáo dục, y tế, chuyển đổi số và giảm nghèo bền vững. Minh chứng thực tế trong thời gian qua cho thấy, nhiều di sản đã được chuyển hóa thành sinh kế bền vững thông qua các sản phẩm OCOP 4-5 sao mang tính biểu tượng như: Hồng trà cổ thụ Phìn Hồ (Hà Giang - cũ), Thổ cẩm Chiềng Châu (Hòa Bình - cũ), Cà phê Ea Tu (Đắk Lắk) và Lụa Chăm Châu Phong (An Giang).
Việc nâng tầm nông sản đặc trưng và du lịch cộng đồng không chỉ tạo sinh kế bền vững cho đồng bào, mà còn chuyển hóa di sản thành tài sản kinh tế. Quá trình này cần phát triển hài hòa, tránh thương mại hóa để gìn giữ vẹn nguyên bản sắc truyền thống. Khi cuộc sống ấm no, niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước được củng cố, từ đó sẽ tạo lập nền tảng an sinh kiên cố, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nơi phên dậu Tổ quốc, văn hóa sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển bền vững và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.
4.4. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò của cộng đồng, lực lượng vũ trang trong bảo vệ biên giới
Cần tiếp tục phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc tôn giáo và nghệ nhân dân gian trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ gìn đoàn kết cộng đồng, giải quyết mâu thuẫn từ cơ sở và tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới. Hiện nay cả nước có khoảng 29.626 người có uy tín trong đồng bào DTTS, đây chính là lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền chủ trương của Đảng, hòa giải cơ sở và vận động Nhân dân tham gia bảo vệ biên giới.
Các lực lượng vũ trang tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền biên phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức các hoạt động văn hóa, giáo dục truyền thống, phổ biến pháp luật, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội và chăm lo đời sống nhân dân. Đồng thời, tiếp tục nhân rộng các mô hình hiệu quả như “Tổ tự quản đường biên, cột mốc”, “Con nuôi đồn Biên phòng”, “Nâng bước em tới trường”, “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, qua đó tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ở khu vực biên giới.
4.5. Đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng đối ngoại văn hóa
Chuyển đổi số cần được xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu số về di sản văn hóa; đẩy mạnh số hóa tiếng nói, chữ viết, nghệ thuật dân gian, sử thi, lễ hội và tri thức bản địa; phát triển bảo tàng số, thư viện số và các nền tảng giáo dục văn hóa trực tuyến. Đồng thời, xây dựng các sản phẩm truyền thông số có chất lượng nhằm quảng bá hình ảnh vùng biên giới, lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống và nâng cao khả năng nhận diện, đấu tranh với các thông tin sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng.
Cùng với đó, cần tăng cường đối ngoại văn hóa, mở rộng giao lưu Nhân dân, kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới và hợp tác bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống trên cơ sở tôn trọng chủ quyền quốc gia và pháp luật của mỗi nước. Sự giao lưu Nhân dân, hợp tác bảo tồn di sản trên tinh thần tôn trọng chủ quyền quốc gia sẽ biến các giá trị văn hóa thành nhịp cầu hữu nghị, thiết lập “vành đai xanh an ninh” ngăn chặn từ sớm tội phạm xuyên biên giới và mưu đồ kích động xung đột của các thế lực thù địch…
5. Kết luận
Phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số vừa là yêu cầu khách quan để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là nhiệm vụ chiến lược trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Thời gian tới, cần hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tăng cường đầu tư nguồn lực và đẩy mạnh chuyển đổi số trong bảo tồn di sản. Đồng thời, cần phát huy vai trò của đồng bào, người có uy tín cùng lực lượng vũ trang trong xây dựng đời sống văn hóa gắn với bảo vệ chủ quyền biên giới. Đặc biệt, phải gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia. Đây chính là nền tảng cốt lõi để xây dựng vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố “thế trận lòng dân”, tạo điểm tựa chính trị - tinh thần vững chắc nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.
* Học viện Hậu cần - Bộ Quốc phòng
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
2. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Chính phủ, Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 202 -2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025, năm 2024.
5. Chính phủ Việt Nam. (2026). Nghị định số 307/2026/NĐ-CP ngày 04/08/2026 của Chính phủ quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cổng Thông tin Điện tử Bộ Dân tộc và Tôn giáo. https://vanban.chinhphu. vn/?pageid=27160&docid=219081 [1, 2]
6. Ủy ban Dân tộc, Báo cáo Kết quả thực hiện công tác dân tộc năm 2024 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2025.
7. Cổng thông tin điện tử Quốc hội: “Hòa giải ở cơ sở: Luật cần quy định để phát huy vai trò của các tổ chức chính trị”. Truy cập ngày 10/8/2026. https:// quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc hoi.aspx?ItemID=100960
8. Bộ đội Biên phòng Việt Nam. (2024). Quy chế phối hợp góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Báo Biên Phòng Điện tử. bienphong.com.vn