Nghệ nhân Tounech Ma TiNa (ở giữa), dân tộc Churu, ở thôn Dion A, xã D'ram, tỉnh Lâm Đồng truyền dạy kỹ thuật đánh chiêng cho lớp trẻ trong buônTừ khóa: Nghệ nhân; Chủ thể văn hóa; Bảo tồn văn hóa; Dân tộc thiểu số.
1. Đặt vấn đề
Những năm qua, các nghiên cứu về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số (DTTS) chủ yếu tập trung làm rõ vai trò của cộng đồng với tư cách là chủ thể sáng tạo và lưu giữ di sản. Số lượng nghiên cứu về nghệ nhân như một chủ thể đặc thù của quá trình bảo tồn và phát triển văn hóa vẫn còn hạn chế.
Thực tiễn cho thấy, nghệ nhân là “kho tư liệu sống”, là người lưu giữ tri thức dân gian, nghề thủ công, ngôn ngữ, nghi lễ, diễn xướng, phong tục tập quán... Không chỉ trực tiếp bảo tồn các giá trị văn hóa đã có, nghệ nhân còn tham gia điều chỉnh, sáng tạo văn hóa trong bối cảnh phát triển mới, góp phần duy trì bản sắc tộc người và củng cố sự gắn kết cộng đồng.
Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 về một số cơ chế, chính sách bảo tồn văn hóa DTTS. Lần đầu tiên, khái niệm “chủ thể văn hóa nòng cốt” và “chủ thể văn hóa kế cận” được xác lập rõ ràng cùng với các cơ chế hỗ trợ cụ thể đối với hoạt động thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống. Điều này phản ánh sự chuyển biến trong tư duy quản lý nhà nước, bên cạnh chú trọng bảo tồn các loại hình văn hóa còn quan tâm trực tiếp tới những con người đang mang trong mình di sản văn hóa.
Với cách tiếp cận đó, bài viết phân tích vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn và phát triển văn hóa các DTTS; các quan điểm, chính sách mới của Đảng, Nhà nước đối với nghệ nhân; đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả nguồn nhân lực đặc biệt này trong giai đoạn hiện nay.
2. Cơ sở lý luận và cách tiếp cận nghiên cứu
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày để ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[4].
Từ khái niệm trên cho thấy văn hóa luôn gắn liền với con người. Vì vậy, nghiên cứu về bảo tồn, phát huy văn hóa các DTTS không thể chỉ dừng lại ở việc khảo cứu các loại hình di sản mà cần hướng tới việc nhận diện và phát huy vai trò của những chủ thể đang trực tiếp nắm giữ di sản ấy.
Theo Nghị định số 93/NĐ-CP ngày 25/12/2023 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu “nghệ nhân nhân dân”, “nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, có thể hiểu nghệ nhân là cá nhân người Việt Nam đang nắm giữ, thực hành, truyền dạy và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thuộc các loại hình: Tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống; tri thức dân gian; nghề thủ công truyền thống.
Nghệ nhân phải có tài năng hoặc kỹ năng nghề nghiệp đặc biệt xuất sắc, tiêu biểu cho loại hình di sản văn hóa phi vật thể được tôn vinh; có cống hiến được ghi nhận cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị loại hình di sản văn hóa phi vật thể do cá nhân đang nắm giữ, thể hiện ở việc hiểu biết, nắm giữ tri thức, bí quyết, kỹ năng thực hành về loại hình di sản văn hóa phi vật thể; có sản phẩm tinh thần hoặc vật chất có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, thẩm mỹ, kỹ thuật, góp phần bảo vệ và làm giàu các giá trị của di sản văn hóa phi vật thể, phát triển văn hóa, kinh tế - xã hội của đất nước; truyền dạy được nhiều cá nhân đã hoặc đang tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể.
Từ góc độ xã hội học văn hóa, có thể vận dụng lý thuyết vốn văn hóa để lý giải vai trò của nghệ nhân trong đời sống cộng đồng. Theo cách tiếp cận này, vốn văn hóa không chỉ bao gồm tri thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà còn là khả năng chuyển hóa những giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển. Nghệ nhân nắm giữ một lượng lớn vốn văn hóa tích lũy qua nhiều thế hệ, đồng thời đóng vai trò kết nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa cộng đồng với thị trường, giữa bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế.
Ở góc độ quản trị cộng đồng cũng cho thấy nghệ nhân còn là những tác nhân xã hội quan trọng trong việc duy trì các chuẩn mực, điều hòa quan hệ cộng đồng và củng cố bản sắc tộc người. Trong nhiều trường hợp, nghệ nhân chính là cầu nối giữa chính quyền và người dân, góp phần thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống.
3. Vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
Thứ nhất, nghệ nhân là chủ thể lưu giữ và tái tạo ký ức văn hóa của cộng đồng. Trong đời sống các DTTS, nhiều di sản văn hóa phi vật thể không tồn tại dưới dạng văn bản mà chủ yếu được bảo lưu thông qua trí nhớ, kinh nghiệm và thực hành của nghệ nhân. Vì vậy, nghệ nhân có thể được xem như những “thư viện sống”, trực tiếp lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa của từng tộc người.
Họ là người trực tiếp thực hành văn hóa dân tộc đã được tích lũy qua nhiều thế hệ. Họ vừa bảo tồn những giá trị đã có, vừa tham gia vào quá trình tái tạo và thích ứng văn hóa trước những biến đổi của đời sống xã hội. Trên thực tế, nhiều loại hình văn hóa truyền thống vẫn tiếp tục tồn tại nhờ khả năng điều chỉnh linh hoạt của các nghệ nhân để phù hợp với nhu cầu và điều kiện mới. Ví dụ như nghệ thuật hát Then của người Tày, Nùng, Thái. Trước đây, Then chủ yếu gắn với không gian tín ngưỡng, lễ cúng và sinh hoạt cộng đồng truyền thống. Hiện nay, các nghệ nhân đã đưa Then lên sân khấu, vào trường học và hoạt động du lịch cộng đồng. Nghệ nhân vẫn bảo lưu những yếu tố cốt lõi về giai điệu, kỹ thuật diễn xướng nhưng rút gọn thời lượng, biên tập nội dung, sáng tác lời mới để phù hợp với khán giả hiện đại, gọi là Then mới. Nhờ vậy, hát Then không bị mai một mà tiếp tục được phổ biến trong cộng đồng. Hay nghề dệt thổ cẩm của các DTTS trước kia chủ yếu phục vụ đời sống và nghi lễ của cộng đồng. Hiện nay, nhiều nghệ nhân đã cải tiến mẫu mã, kết hợp họa tiết truyền thống với các sản phẩm mới như túi xách, khăn quàng, trang phục hiện đại, đồ lưu niệm phục vụ du lịch, giúp nghề dệt thích ứng với thị trường… Quá trình sáng tạo đó của nghệ nhân góp phần để văn hóa truyền thống không trở thành những “di sản tĩnh” mà tiếp tục vận động trong đời sống đương đại, phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đó là “phát huy vai trò, sứ mệnh của nghệ nhân dân gian như một lực lượng nòng cốt, cùng với toàn thể Nhân dân chung tay sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc”[3].
Nghệ nhân còn là người gìn giữ những tri thức quý của tộc người liên quan đến sản xuất, y học dân gian, bảo vệ môi trường và tổ chức đời sống xã hội - những yếu tố hiện đang được nhìn nhận là nguồn lực phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi trong bối cảnh hiện nay.
Thứ hai, nghệ nhân là người trao truyền văn hóa giữa các thế hệ. Quá trình trao truyền chủ yếu theo cách “cầm tay chỉ việc”, thực hành trực tiếp trong không gian cộng đồng. Từ cách chế tác nhạc cụ, dệt thổ cẩm, hát dân ca, thực hiện nghi lễ đến những kinh nghiệm ứng xử trong đời sống, với thiên nhiên… nghệ nhân đều đóng vai trò người hướng dẫn và truyền cảm hứng cho lớp kế cận.
Song vấn đề đặt ra hiện nay là “một bộ phận không nhỏ thanh niên ít quan tâm đến thực hành văn hóa truyền thống, xem đó là những thứ “lạc hậu”, không phù hợp với cuộc sống hiện đại. Xu hướng di cư lao động ra các đô thị lớn hoặc ra nước ngoài làm suy yếu cơ chế truyền dạy tự nhiên trong gia đình và dòng họ. Thực trạng đáng báo động là các nghệ nhân nắm giữ tri thức truyền thống đang ngày càng cao tuổi và lần lượt qua đời, trong khi lớp kế cận chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng, sự thấu hiểu và lòng đam mê. Sự truyền thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác, vốn là huyết mạch của di sản phi vật thể, đang đứng trước nguy cơ đứt gãy”[5]. Nếu văn hóa truyền thống bị mai một, đứt gãy thì tính cộng đồng, những tri thức tộc người, các mối quan hệ truyền thống, đối nhân xử thế giữa con người với nhau có thể bị biến đổi theo hướng tiêu cực. Trong bối cảnh đó, các yếu tố văn hóa ngoại lai có điều kiện thâm nhập, lấn át; một bộ phận chủ nhân văn hóa DTTS, nhất là lớp trẻ dễ bị choáng ngợp trước lối sống hiện đại, dẫn đến tiếp nhận văn hóa mới ồ ạt, xô bồ, thiếu chọn lọc, quên đi hoặc quay lưng với văn hóa truyền thống.
Sự mai một dễ nhìn thấy nhất là ngôn ngữ, trang phục, nhạc cụ, kiến trúc nhà ở truyền thống. Chẳng hạn về nhà ở, điều tra 53 DTTS năm 2024 cho biết, tỷ trọng hộ DTTS ở nhà truyền thống của dân tộc tiếp tục giảm 3,5% so với năm 2019; ở nông thôn chỉ còn 26,2%, ở thành thị chỉ có 5,8%. Một số dân tộc có tỷ lệ hộ ở nhà truyền thống rất thấp như: Khmer (0,3%), Mạ, Chơ-ro (0,4%)…
Thứ ba, nghệ nhân góp phần củng cố liên kết cộng đồng và bảo vệ bản sắc tộc người. Trong các cộng đồng DTTS, nghệ nhân thường là những người có uy tín xã hội, được cộng đồng tôn trọng bởi tri thức, kinh nghiệm và những đóng góp đối với đời sống văn hóa. Uy tín đó không chỉ được hình thành từ tài năng cá nhân mà còn bắt nguồn từ khả năng duy trì các chuẩn mực văn hóa và gắn kết các thành viên trong cộng đồng. Thông qua việc tổ chức lễ hội, thực hành nghi lễ, truyền dạy nghề thủ công hay tham gia giải quyết các vấn đề xã hội ở cơ sở, nghệ nhân góp phần củng cố mối quan hệ cộng đồng, tăng cường ý thức về cội nguồn và tạo dựng niềm tự hào dân tộc.
Trong bối cảnh giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, các dân tộc diễn ra ngày càng mạnh mẽ, vai trò của nghệ nhân càng trở nên quan trọng, bởi họ chính là những người giúp cộng đồng duy trì bản sắc, đồng thời tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố văn hóa mới. Nghệ nhân không chỉ là người lưu giữ ký ức văn hóa mà còn là lực lượng bảo vệ tính liên tục của đời sống văn hóa cộng đồng. Sự hiện diện của họ giúp duy trì những giá trị cốt lõi của văn hóa tộc người, hạn chế nguy cơ đồng hóa và tạo nền tảng tinh thần cho phát triển bền vững.
Thứ tư, nghệ nhân là nguồn lực cho phát triển kinh tế văn hóa và du lịch cộng đồng. Khi phát triển văn hóa, con người được xác định “là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”[3]; các giá trị văn hóa phải được gắn kết chặt chẽ, hài hòa, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia, nghệ nhân không chỉ thực hiện chức năng bảo tồn mà còn là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế văn hóa, du lịch cộng đồng và các ngành công nghiệp văn hóa. Những sản phẩm thủ công truyền thống, các loại hình nghệ thuật dân gian, tri thức tộc người… do nghệ nhân nắm giữ đang từng bước được chuyển hóa thành sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế. Tại nhiều địa phương, nghệ nhân đã tham gia xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng, mở lớp truyền nghề, phát triển sản phẩm OCOP và quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc. Quá trình này tạo thêm sinh kế cho người dân, góp phần nâng cao vị thế của văn hóa DTTS trong đời sống xã hội.
4. Chính sách mới đối với nghệ nhân
Như đã đề cập ở trên, sự suy giảm số lượng nghệ nhân và thiếu vắng người kế thừa sẽ ảnh hưởng tới việc bảo tồn các loại hình văn hóa, tác động tới quá trình duy trì bản sắc tộc người. Do đó, xây dựng đội ngũ chủ thể văn hóa gồm cả nghệ nhân và lớp người kế cận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Điều 2 Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 về một số cơ chế, chính sách bảo tồn văn hóa DTTS đã đưa ra khái niệm về nhóm chủ thể văn hóa nòng cốt và chủ thể văn hóa kế cận. Có thể hiểu chủ thể văn hóa nòng cốt là các nghệ nhân. Còn chủ thể văn hóa kế cận là cá nhân người DTTS sinh sống ổn định tại vùng đồng bào DTTS và miền núi, có nguyện vọng và được chủ thể văn hóa nòng cốt hoặc cộng đồng lựa chọn để học tập, tiếp nhận, thực hành và kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình tại cộng đồng.
Từ sự định vị đó, Điều 12 Nghị định quy định chủ thể văn hóa nòng cốt trực tiếp tham gia hoạt động thực hành, trao truyền văn hóa truyền thống trong các chương trình, đề án, dự án do cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập chủ trì tổ chức được hỗ trợ 400.000 đồng/người/buổi và 300.000 đồng/người/buổi đối với chủ thể văn hóa kế cận. Số buổi hỗ trợ tối đa không quá 20 buổi/chương trình, kinh phí thực hiện được chi trả trong phạm vi dự toán được cấp thẩm quyền giao. Hỗ trợ kinh phí hằng tháng cho chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận tham gia các hoạt động phục hồi, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống theo chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Cơ chế hỗ trợ này là sự cụ thể hóa yêu cầu “có chính sách đãi ngộ xứng đáng với nghệ nhân dân gian” được nêu trong Nghị quyết số 80-NQ/ TW, thể hiện sự coi trọng vai trò của nghệ nhân là những “báu vật nhân văn sống” và lớp kế cận do họ chọn lựa để truyền dạy văn hóa. Đây là sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy xây dựng chính sách, không chỉ tôn vinh nghệ nhân mà còn kiến tạo sự kết nối giữa các thế hệ.
Tuy vậy, để phát huy hơn nữa vai trò của nghệ nhân, cần tiếp tục nghiên cứu có thêm các chế độ đãi ngộ về bảo hiểm y tế, tạo điều kiện về không gian và phương tiện để họ thực hành và sáng tạo. Lập hồ sơ nghệ nhân theo từng lĩnh vực. Quan trọng hơn, cần đầu tư để phục hồi và nuôi dưỡng cơ chế truyền dạy tự nhiên trong gia đình, dòng họ, cộng đồng - những phương thức hiệu quả nhất để chuyển giao các giá trị “ngầm” của văn hóa. Đưa nghệ nhân vào trường học với tư cách là những “người thầy văn hóa” và hỗ trợ họ ghi chép, số hóa, lưu trữ các tri thức, kỹ năng quý mà họ đang nắm giữ. Có thể phát động phong trào “mỗi nghệ nhân một học trò hoặc nhóm học trò trực tiếp tại gia đình”. Hình thức này không đòi hỏi kinh phí đầu tư, tận dụng được không gian sinh hoạt hàng ngày, phù hợp với phương thức truyền dạy truyền thống dựa trên sự quan sát và thực hành lặp đi lặp lại trong gia đình và dòng họ.
5. Kết luận
Cả nước hiện có 43 Nghệ nhân Nhân dân và 748 Nghệ nhân Ưu tú là người DTTS được phong tặng theo Nghị định số 93/2023/NĐ-CP. Họ là những “báu vật”, giữ vai trò đặc biệt trong bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS bởi vừa là người lưu giữ ký ức cộng đồng, vừa là chủ thể thực hành, trao truyền và tái tạo các giá trị văn hóa truyền thống. Hiện nay, vai trò đó càng quan trọng đối với việc bảo vệ bản sắc tộc người, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và phát huy nguồn lực văn hóa phục vụ phát triển bền vững. Nghị định số 269/2026/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình thể chế hóa vai trò của nghệ nhân thông qua cơ chế hỗ trợ đối với chủ thể văn hóa nòng cốt và chủ thể văn hóa kế cận, phản ánh bước chuyển trong tư duy quản lý văn hóa từ bảo tồn các sản phẩm văn hóa sang bảo tồn và phát huy chính những con người đang mang di sản trong mình. Để phát huy hiệu quả nguồn nhân lực đặc biệt này, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách đối với nghệ nhân và xây dựng môi trường thuận lợi cho hoạt động trao truyền văn hóa ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ (2026), Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 về một số cơ chế, chính sách bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số
2. Cục Thống kê - Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, Nxb Kinh tế - Tài chính, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80 NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.431.
5. Phạm Cao Quý (2026), Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của người Chăm ở Khánh Hòa - Tiếp cận từ quản trị hệ sinh thái cân bằng động dựa vào cộng đồng, Kỷ yếu Hội thảo khoa học toàn quốc “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm trong kỷ nguyên mới”, tr.172,173