Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Tư tưởng công bằng và ổn định xã hội của Phật hoàng Trần Nhân Tông - Giá trị lịch sử và ý nghĩa đương đại

PGS.TS. Nguyễn Thanh Xuân* - 14:22, 01/07/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Phật hoàng Trần Nhân Tông không chỉ được biết đến là vị minh quân, anh hùng dân tộc có công lớn trong sự nghiệp bảo vệ đất nước mà còn là nhà tư tưởng, nhà văn hóa lớn với những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của Phật giáo và đời sống tinh thần của dân tộc. Tư tưởng của ông mang đậm tinh thần nhập thế, lấy con người làm trung tâm đề cao sự hòa hợp, đoàn kết và hướng tới xây dựng một xã hội ổn định, nhân văn.

Bảo tượng Phật Hoàng trên núi Yên Tử
Bảo tượng Phật Hoàng trên núi Yên Tử

Từ khóa: Phật hoàng Trần Nhân Tông; Tư tưởng công bằng; Ổn định xã hội; Phật giáo nhập thế; Thiền phái Trúc Lâm; Đại đoàn kết dân tộc.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu phát triển bền vững, bảo đảm công bằng xã hội và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng được đặt ra cấp thiết, việc nghiên cứu tư tưởng công bằng, ổn định xã hội của Phật hoàng Trần Nhân Tông không chỉ góp phần làm sáng tỏ giá trị tư tưởng của một nhân vật lịch sử tiêu biểu mà còn có ý nghĩa tham chiếu đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trên cơ sở phân tích các tư liệu lịch sử và những quan điểm của Trần Nhân Tông trong hoạt động chính trị, quân sự cũng như tôn giáo, bài viết làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng công bằng, ổn định xã hội của ông, đồng thời chỉ ra giá trị và ý nghĩa của tư tưởng đó đối với thực tiễn hiện nay.

2. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và bảo vệ chủ quyền quốc gia

Ngay từ nhỏ, Vua Trần Nhân Tông đã quan tâm đến Phật giáo, nhưng khi lên nắm chính quyền trong bối cảnh đất nước đang bị đe dọa bởi ngoại xâm, vấn đề đầu tiên ông hướng đến giải quyết là bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập của Tổ quốc. Vì thế, Ngài phải đưa ra được một sách lược tổng quát để có thể chiến thắng trong cuộc chiến đấu với kẻ thù. Đó là thực hiện nền quốc phòng toàn dân, huy động mọi tiềm lực dân tộc cho cuộc chiến đấu chống quân xâm lược. Điều này đã được thể hiện trong hai cuộc chiến tranh chống lại quân xâm lược Mông - Nguyên năm 1285 và năm 1288. Trong hai cuộc kháng chiến, dưới sự chỉ đạo của mình, Trần Nhân Tông đã huy động được lòng yêu nước, ý chí chống kẻ thù của mọi người dân Đại Việt không phân biệt thành phần xã hội, tuổi tác, tôn giáo... Trong các đội quân tiến đánh quân Mông - Nguyên thời kỳ này có những người thuộc dòng dõi thân vương như Trần Quang Khải, Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Tung,…

Đồng thời, cũng có những người có nguồn gốc dân thường như: Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái,... và cả những người mang thân phận gia nô như Yết Kiêu, Dã Tượng; có những người còn rất trẻ như Trần Quốc Toản, nhưng cũng có cả những vị bô lão tham gia hội nghị Diên Hồng; có những người thuộc dân tộc thiểu số như Hà Đặc, Hà Chương, cũng có những đạo sĩ ngoại quốc như Hứa Tông Đạo, thậm chí có những người là tướng lĩnh của kẻ thù như Trương Hiển,...

Như vậy, Trần Nhân Tông đã tập hợp, đoàn kết được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù. Để đạt được điều đó, trước hết phải xuất phát từ một chính sách đoàn kết đúng đắn. Chính sách đại đoàn kết này chỉ có thể được thực hiện khi người lãnh đạo đất nước đặt lợi ích của cấp dưới, lợi ích của Nhân dân lên cao hơn tất cả các lợi ích khác và đưa toàn thể dân tộc vào một mục tiêu đấu tranh chính nghĩa chung là đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Trong bài hịch gửi tướng lĩnh và binh sĩ, Trần Hưng Đạo đã thay lời Trần Nhân Tông nói rõ điểm này “Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có áo mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan thấp thì ta thăng tước, lộc ít thì ta cấp lương, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc ra quân thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi đám tỳ tướng, Ngột Lang đãi kẻ phụ tá, nào có kém gì?”.

Bài hịch đã vạch ra sự thống nhất quyền lợi giữa người lãnh đạo đất nước và người dân bình thường. Đây chính là cơ sở của sự đoàn kết toàn dân. Mọi người đều thấy mình có cùng chung một quyền lợi để chia sẻ và do đó phải cùng nhau bảo vệ. Sự tồn tại của quyền lợi người này là điều kiện và tiền đề để cho quyền lợi người khác tồn tại. Quan hệ biện chứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi này đã xây dựng nên ý thức về việc cùng chung một đất nước, một cộng đồng để yêu mến. Và thực tế, yêu nước chính là yêu gia đình cha mẹ, vợ con mình, là yêu phần mộ Tổ tiên mình, là yêu không gian sông núi, đất trời nơi mình đang sinh sống.

3. Tư tưởng an dân và phục hồi đời sống xã hội sau chiến tranh

Trong mọi điều kiện, nhà vua đều tìm cách để hạn chế sự tiêu hao sức lực, tiền của và tài sản của người dân. Khi hòa bình lập lại, để sớm ổn định đời sống cho dân, Trần Nhân Tông đã thông qua chính sách hành chính thực hiện hàng loạt các biện pháp nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định xã hội, phục hưng văn hóa, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Vua đã có biện pháp phát triển đồng bộ nông nghiệp, thương nghiệp và thủ công nghiệp nhằm tạo cái ăn, cái mặc cho người dân; giải quyết những vấn đề xã hội về tội phạm, về những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, để tạo nên một cuộc sống quan hệ xã hội hài hòa, ổn định.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, một trong những biện pháp tiêu biểu để ổn định cuộc sống người dân sau chiến tranh là miễn, giảm tô thuế. Ngay khi hòa bình lập lại, Trần Nhân Tông đã sớm công bố lệnh miễn, giảm tô thuế tạp dịch cho những vùng đã trải qua chiến tranh và những vùng liên quan. Đại Việt sử ký toàn thư viết: Tháng tư mùa hạ (năm Mậu Tí, 1288), ngày sau khi Vua Trần Nhân Tông và Thái Thượng hoàng trở về kinh đô, triều đình đã ra lệnh: đại xá thiên hạ. Những nơi bị binh lửa, cướp phá được miễn toàn phần tô, dịch, các nơi khác thì miễn giảm theo mức độ khác nhau. Mục đích của việc làm này là giảm gánh nặng cho dân, khuyến khích người dân khôi phục kinh tế, sớm ổn định đời sống. Như vậy, với việc miễn, giảm thuế cho thấy Trần Nhân Tông là một vị vua nhân từ, luôn chăm lo đời sống của người dân, ông cũng đã từng tâm sự với các quan trong triều: “Trẫm yêu dân như yêu con trẫm”. Vẻ đẹp bình dị và trong sáng này là đạo đức có giá trị không chỉ cho hôm nay mà cả mai sau.

Cùng với miễn giảm thuế cho người dân, để động viên tinh thần quân sĩ, tháng 4 năm Kỷ Sửu (1289), Trần Nhân Tông cho họp để định công ban thưởng với những người đã tham gia dẹp giặc Nguyên. Đại Việt sử ký toàn thư chép lại đợt thưởng công này như sau:

“Mùa hạ, tháng 4, định công dẹp giặc Nguyên. Tiến phong Hưng Đạo Vương làm Đại Vương, Hưng Vũ Vương làm Khai Quốc công, Hưng Nhượng Vương làm Tiết độ sứ. Người nào có công lớn thì được ban quốc tính. Khắc Chung được dự vào đồng thời cho làm Đại hành khiển. Hưng Trí Vương không được thăng trật, vì đã có chiếu cho người Nguyên về nước, các tướng không được cản trở, mà Vương còn đón đánh. Cho Man trưởng Lạng Giang là Lương Uất làm trại chủ Quy Hóa, Hà Tất Năng làm Quan phục hầu vì có đem quân người Man ra đánh bại giặc”. Việc thưởng công cho những người có thành tích trong cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1288 đã diễn ra khá sôi nổi.

Cùng với việc ban thưởng, Trần Nhân Tông đã tùy theo nặng nhẹ mà xử trị những người đầu hàng giặc. Đáng chú ý là, trong quá trình xử tội, vua và Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã ra lệnh đốt tất cả giấy tờ của những người xin đầu hàng giặc mà quân ta đã thu được. Đại Việt sử ký toàn thư đã mô tả lại sự kiện này như sau: “Trước kia, người Nguyên vào cướp, vương hầu, quan liêu phần nhiều đến doanh trại giặc xin hàng. Đến khi giặc thua, bắt được cả một hòm các tờ biểu xin hàng, Thượng hoàng sai đốt hết đi để yên lòng những kẻ phản trắc. Chỉ những kẻ đầu hàng trước đây thì dù bản thân đang ở triều đình giặc, cũng bị kết án vắng mặt, xử tội lưu đày hay tử hình, tịch thu điền sản, sung công, tước bỏ quốc tính”. Việc làm này cho thấy tinh thần nhân văn, độ lượng của triều đình đối với một bộ phận người đã lầm lỡ, hơn nữa, nó chứng tỏ một đường lối chính trị nhân đạo để ổn định đất nước sau chiến tranh, làm cho mọi người cảm thấy yên tâm lao động, xây dựng đất nước.

Tư tưởng công bằng và ổn định xã hội của Phật hoàng Trần Nhân Tông được thể hiện xuyên suốt trong hoạt động chính trị, quân sự và tôn giáo của ông
Tư tưởng công bằng và ổn định xã hội của Phật hoàng Trần Nhân Tông được thể hiện xuyên suốt trong hoạt động chính trị, quân sự và tôn giáo của ông

4. Tư tưởng xây dựng xã hội hài hòa, nhân văn và bảo đảm công bằng

Các chính sách của Trần Nhân Tông vừa nhằm đem lại sự ổn định cho người dân, vừa chứa đựng tinh thần nhân văn sâu sắc và tầm nhìn xa trông rộng. Bề tôi của vua là Phí Mạnh làm An phủ Châu Diễn mắc tội tham ô, bị vua triệu về phạt đánh, sau đó lại cho về nhậm chức. Cảm đức của vua, Phí Mạnh quyết tâm sửa chữa lỗi lầm nên ít lâu sau trở thành người thanh liêm nổi tiếng. Dân địa phương có câu: “Diễn Châu an phủ thanh như thủy (An phủ Diễn Châu trong sạch như nước).

Để đảm bảo sự công bằng cho người dân, Trần Nhân Tông quan tâm đến hình án xử oan sai, để tâm đến thân phận của người dân bình thường và dành cho họ sự bình đẳng trước pháp luật. Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi lại sự kiện năm Canh Thìn (1280): “Mùa Đông, tháng mười, được mùa to. Lúa ruộng ở Trà Kiều thuộc Khoái Lộ một giò 2 bông. Em Đỗ Khắc Chung là Đỗ Thiên Thư kiện nhau với người, tình lý đều trái. Người kia đón xa giả để kêu bày. Vua hỏi quan xử kiện. Viên quan đó trả lời: “Án xử đã xong, nhưng hình quan thoái thác không chuẩn định đó thôi”. Vua nói: “Đó là do sợ mà né tránh Khắc Chung đấy”. Ở bên đường sai Chánh trưởng nội thư hỏa là Trần Hùng Thao kiêm chức Kiểm pháp quan để chuẩn định, thì Thiên Thư quả nhiên là trái”. Việc quyết định minh oan cho người ở thân phận thấp của Trần Nhân Tông chứng tỏ ông rất thông tuệ, có lòng trung hậu, thương dân, xứng đáng được người dân quý mến và tôn vinh là bậc minh quân. Nhận định việc làm này, sử gia Ngô Sĩ Liên cho rằng: nhờ sự anh minh, mong muốn đem lại công bằng cho người dân của nhà vua mà “dân tình được thấu lên trên. Việc (...) để cho án kiện đọng lại được xử ngay, cũng thấy được lòng trung hậu của vua”.

Không chỉ ban hành các chính sách đem lại sự công bằng nhiều nhất cho dân, ngay trong hành động hằng ngày của mình, Trần Nhân Tông cũng có những việc làm thể hiện tinh thần trọng dân, đoàn kết nhân dân. Trong lịch sử có ghi lại sự kiện: vua từng ngự chơi bên ngoài, giữa đường gặp gia đồng, gia nô của các vương hầu, vua đều gọi lại hỏi hoàn cảnh. Vua yêu cầu các thị vệ không được la đuổi họ, thậm chí khi về cung, ông còn cho gọi bề tôi lại nhắc nhở: Ngày thường thì có tả hữu theo hầu, nhưng khi quốc gia lâm nguy thì chỉ có những gia nô, gia đồng ấy theo hầu thôi. Việc làm này cho thấy Trần Nhân Tông không chỉ đánh giá cao những người lãnh đạo, những người thuộc tầng lớp trên của xã hội, mà ngay cả những người dân ở tầng lớp kém nhất, vua cũng có cái nhìn nhân văn. Tầng lớp này vào thời điểm ấy có thể không phải thuộc thành phần được học hành nhiều, có của cải, nhưng đối với sự tồn vong của quốc gia, họ vẫn có những đóng góp to lớn, thậm chí dám hy sinh cả tính mạng bản thân.

Mặt khác, với tầm nhìn xa trông rộng, xuất phát từ tư tưởng lấy dân làm gốc, tránh những lãng phí về kinh tế ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, Vua Trần Nhân Tông đã chỉ ra những nguy hại của một bộ máy hành chính cồng kềnh đối với nhân dân. Theo Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: khi nhìn thấy quyển sổ bổ quan phong tước của Vua Trần Anh Tông có quá nhiều người, Trần Nhân Tông đã phải thốt lên: Sao lại có một nước bé như bàn tay, mà phong quan tước nhiều đến thế... Tư tưởng chủ trương “quan nhiều dân chết” mà Ngô Thì Nhậm sau này nêu lên, có thể có nguồn gốc từ đây. Như vậy, với tinh thần thương dân sâu sắc, Trần Nhân Tông cho rằng, Nhà nước phải có trách nhiệm chăm lo, đảm bảo lợi ích cho người dân, việc dân sự hóa bộ máy hành chính là cần thiết, nhưng ông dứt khoát không để bộ máy này trở nên cồng kềnh, bòn rút máu mô, sức lực của dân.

Hơn nữa, mong muốn “an dân” của Trần Nhân Tông còn thể hiện trong quan hệ bang giao. Ông đã chủ động thắt chặt mối quan hệ bang giao với Chiêm, lại gả con gái Huyền Trân cho vua Chiêm, thắt chặt tình hữu nghị hai nước, để quốc thái dân an không còn cảnh khói lửa chiến tranh, nhân dân phiêu tán.

5. Tư tưởng Phật giáo nhập thế hướng tới sự ổn định và cố kết cộng đồng

Sau khi hoàn thành sự nghiêp bảo vệ đất nước và đào tạo người kế vị, Trần Nhân Tông xuất gia sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, phát triển tư tưởng Phật giáo mang tinh thần nhập thế, kết hợp hài hòa giữa lý tưởng tu hành với trách nhiệm đối với dân tộc và đất nước. Tư tưởng Thiền của ông đề cao lòng yêu thương con người, hướng con người đến sự bình đẳng, bác ái; đồng thời nhấn mạnh tinh thần hòa nhập với xã hội, tôn trọng phép nước, gắn đạo với đời và đề cao trách nhiệm đối với quốc gia. Thông qua việc xây dựng Thiền phái Trúc Lâm và truyền bá giáo lý Phật giáo, Trần Nhân Tông đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, thống nhất ý thức hệ và tạo nên một nền Phật giáo mang đậm bản sắc dân tộc, trở thành một trong những nhân tố quan trọng trọng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước thời Trần.

Không chỉ dừng lại ở việc truyền bá giáo lý nhà Phật, tư tưởng Thiền nhập thế của Trần Nhân Tông còn hướng tới xây dựng một nền tảng đạo đức xã hội dựa trên tinh thần hòa hợp, khoan dung và trách nhiệm đối với cộng đồng. Theo ông, sự ổn định và phát triển của quốc gia không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh quân sự hay tiềm lực kinh tế mà còn bắt nguồn từ sự ổn định trong đời sống tinh thần, từ việc con người biết tu dưỡng bản thân, hướng thiện và sống hài hòa với người khác. Vì vậy, ông chủ trương lấy giáo hóa làm phương thức cảm hóa con người, khuyến khích mỗi cá nhân thực hành lòng từ bi, vị tha, giảm bớt tham dục và loại bỏ những xung đột, chia rẽ trong xã hội. Tư tưởng đó đã góp phần tạo nên một môi trường xã hội ổn định, củng cố niềm tin của Nhân dân vào triều đình, đồng thời tăng cường sự gắn kết giữa các tầng lớp trong xã hội. Thông qua việc kết hợp giữa tinh thần nhập thế của Phật giáo với truyền thống yêu nước và ý thức dân tộc, Trần Nhân Tông đã tạo dựng nên một hệ giá trị mang đậm bản sắc Việt Nam, vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người, vừa phục vụ mục tiêu xây dựng và bảo vệ đất nước. Đây cũng là một trong những đóng góp nổi bật của ông đối với lịch sử tư tưởng và văn hóa dân tộc.

6. Kết luận

Tư tưởng công bằng và ổn định xã hội của Phật hoàng Trần Nhân Tông được thể hiện xuyên suốt trong hoạt động chính trị, quân sự và tôn giáo của ông, với hạt nhân là tư tưởng lấy dân làm gốc, đề cao tinh thần đoàn kết, nhân văn và hòa hợp xã hội. Những quan điểm đó không chỉ góp phần tạo nên sự hưng thịnh của triều Trần mà còn phản ánh giá trị của Phật giáo nhập thế gắn bó với dân tộc. Đến nay, những tư tưởng ấy vẫn mang ý nghĩa tham chiếu quan trọng đối với quá trình xây dựng một xã hội công bằng, ổn định và phát triển bền vững ở Việt Nam.

* Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo

1. Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích theo bản in Nội các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697) Hà Văn Tấn hiệu đính, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004.

2. Trường Khánh (Sưu tầm và biên soạn), Hoàng đế triều Trần cội nguồn - ấn tượng dân gian, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2009.

3. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000. 

4. Thích Thanh Quyết - Nguyễn Quốc Tuấn đồng chủ biên, Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308), con người và sự nghiệp, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000.

5. Phan Huy Lê (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, tập 1, 2, 3, 4, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2014.

6. Nguyễn Kim Sơn, Trần Nhân Tông thiền lạc và thi hứng, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2017.

7. Viện Trần Nhân Tông, Phật giáo nhập thế và các vấn đề xã hội đương đại, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. 2018.

8. Viện Trần Nhân Tông và Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Trần Nhân Tông và Phật giáo Trúc Lâm đặc sắc tư tưởng, văn hóa, Hà Nội, 2019.

9. Trần Nguyên Việt (Chủ biên), Lịch sử tư tưởng Việt Nam văn tuyển tập 2: Tư tưởng Việt Nam thời kỳ Trần - Hồ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.