Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu phân tích toàn diện và chuyên sâu hệ thống khung pháp lý hiện hành của Việt Nam quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, một trong những quyền con người cơ bản được Hiến định và liên tục được thể chế hóa sâu sắc. Bài viết làm rõ tiến trình hoàn thiện thể chế từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và bước ngoặt thể chế với sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 (Luật số 07/2026/QH16); đồng thời, khẳng định hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay không chỉ tiệm cận các chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà còn bảo đảm sự tương thích giữa khung pháp lý và thực tiễn sinh hoạt tôn giáo phong phú của Nhân dân.
Trung tâm chính trị - Pháo đài tư tưởng trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trung tâm chính trị - Pháo đài tư tưởng trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Không gian học thuật | Lữ Đức Báu* - 14:10, 05/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và sự bùng nổ của không gian mạng, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang đứng trước nhiều yêu cầu và thách thức mới. Theo Quy định số 360-QĐ/TW ngày 29/8/2025 của Ban Bí thư, trung tâm chính trị cấp xã giữ vai trò quan trọng trong bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên và các lực lượng trong hệ thống chính trị ở cơ sở. Bài viết làm rõ vai trò của trung tâm chính trị như một “pháo đài tư tưởng”, phân tích những thách thức đặt ra hiện nay và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị nhằm góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Những điểm mới gắn với chuyển đổi mô hình quản trị trong Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030

Những điểm mới gắn với chuyển đổi mô hình quản trị trong Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030

Không gian học thuật | ThS. Trần Hồng Quỳnh - 13:25, 05/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: 2026 2030 được xây dựng trên cơ sở tích hợp ba chương trình mục tiêu quốc gia của giai đoạn 2021-2025 thành một khuôn khổ quản lý thống nhất. Bài viết phân tích những điểm mới của Chương trình nhằm góp phần làm sáng tỏ sự đổi mới trong tư duy quản trị phát triển, khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, chồng chéo chính sách và nâng cao hiệu quả đầu tư công.
Chuyển đổi số vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiếp cận ba trụ cột từ dữ liệu, dịch vụ công

Chuyển đổi số vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiếp cận ba trụ cột từ dữ liệu, dịch vụ công

Không gian học thuật | TS. Hà Việt Quân - ThS. Bùi Quốc Thắng - 13:24, 05/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích khoảng cách giữa mở rộng hạ tầng số và khả năng thụ hưởng thực tế của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Từ các văn bản chính sách giai đoạn 2020-2026, số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024 và tài liệu quốc tế, nghiên cứu nhận diện ba điểm nghẽn: dữ liệu phân tán, dịch vụ số chưa phù hợp với điều kiện sử dụng và nguồn lực sinh kế thiếu liên kết với thị trường. Bài viết đề xuất khung ba trụ cột gồm dữ liệu phục vụ điều hành, dịch vụ số dễ tiếp cận và kết nối nguồn lực cho sinh kế; đồng thời nêu yêu cầu về quản trị dữ liệu, hỗ trợ đa kênh, giới hạn tự động hóa và đánh giá độc lập trước khi mở rộng.
Phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ nguồn lực con người và tri thức địa phương

Phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ nguồn lực con người và tri thức địa phương

Không gian học thuật | Thượng tá, ThS. Hoàng Đức Thành* - 12:00, 04/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi từ nguồn lực con người và tri thức địa phương là một trong những hướng tiếp cận quan trọng nhằm phát huy nội lực, thúc đẩy phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số hiện nay. Nguồn lực con người không chỉ bao gồm trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực đổi mới sáng tạo, mà còn gắn với khả năng kế thừa, bảo tồn và phát huy các giá trị tri thức địa phương được tích lũy qua nhiều thế hệ. Nghiên cứu phân tích vai trò và thực trạng khai thác nguồn lực con người và tri thức địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trên cơ sở đánh giá những cơ hội và thách thức đặt ra, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo tồn và số hóa tri thức địa phương, kết hợp hiệu quả giữa tri thức truyền thống với khoa học công nghệ hiện đại. Đây là nền tảng quan trọng để phát huy nguồn lực nội sinh, bảo tồn bản sắc văn hóa và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới.
Phát triển du lịch cộng đồng dựa vào tài nguyên văn hóa ở vùng dân tộc thiểu số thành phố Hà Nội

Phát triển du lịch cộng đồng dựa vào tài nguyên văn hóa ở vùng dân tộc thiểu số thành phố Hà Nội

Không gian học thuật | ThS. Nguyễn Duy Dũng* - 12:00, 04/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Vùng đồng bào dân tộc thiểu số của thành phố Hà Nội sở hữu hệ thống tài nguyên văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Mường và Dao, bao gồm lễ hội, tri thức địa phương, nghề thủ công, ẩm thực, nhà ở truyền thống và nghệ thuật dân gian, tạo tiềm năng lớn để phát triển du lịch cộng đồng. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng tại các xã: Mỹ Đức, Yên Xuân, Suối Hai, Ba Vì, Yên Bài,... đồng thời đề xuất các giải pháp theo hướng phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế và thực hiện các mục tiêu của Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 là yếu tố quyết định để nâng cao sức cạnh tranh của du lịch cộng đồng, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và phát triển kinh tế địa phương.
Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 cụ thể hóa các định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn, an sinh xã hội và công tác dân tộc

Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 cụ thể hóa các định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn, an sinh xã hội và công tác dân tộc

Không gian học thuật | Hoàng Thu - 11:57, 04/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nội dung của Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030, bài viết làm rõ vai trò của Chương trình như một công cụ thể chế hóa các định hướng chiến lược của Đảng thành hệ thống mục tiêu, cơ chế, chính sách và giải pháp tổ chức thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước. Đồng thời bài viết phân tích những giá trị của Chương trình đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công, thúc đẩy phát triển bao trùm, giảm chênh lệch vùng miền và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
Nguồn lực tôn giáo trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam - Từ chuyển biến tư duy đến hoàn thiện thể chế pháp lý

Nguồn lực tôn giáo trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam - Từ chuyển biến tư duy đến hoàn thiện thể chế pháp lý

Không gian học thuật | ThS. Nguyễn Xuân Đĩnh* - ThS. Nguyễn Thanh Dương** - 11:56, 04/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu chuyên sâu về nguồn lực tôn giáo từ đó đánh giá thực trạng thể chế hóa và giải pháp khơi thông nguồn lực này cho công tác an sinh xã hội ở Việt Nam. Bài viết chỉ ra rằng, nguồn lực tôn giáo bao gồm các thành tố vật chất, con người, vốn xã hội và các giá trị đạo đức - tinh thần, đóng vai trò trợ lực quan trọng bên cạnh hệ thống an sinh xã hội do Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, khung pháp lý hiện hành tại Việt Nam vẫn tồn tại những điểm nghẽn về tư cách chủ thể, cơ chế tiếp cận đất đai, ưu đãi thuế, tài chính và sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo với các luật chuyên ngành như y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế, chuyển đổi tư duy quản lý và tối ưu hóa đóng góp của các tổ chức tôn giáo vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Một số vấn đề về lao động người dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Một số vấn đề về lao động người dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Không gian học thuật | Phương Thảo - 11:55, 04/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Từ kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, bài viết phân tích quy mô, cơ cấu và chất lượng lao động của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Kết quả cho thấy lực lượng lao động khá dồi dào, trong đó tỷ lệ tham gia lao động ở nhiều nhóm dân tộc đạt trên 70%. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn chiếm đa số (trên 80%), lao động tập trung chủ yếu trong khu vực nông, lâm nghiệp (trên 60%) và tình trạng việc làm thiếu bền vững còn phổ biến. Bài viết chỉ ra một số nghịch lý nổi bật như: Dồi dào lao động nhưng chất lượng thấp; Cơ cấu trẻ nhưng hiệu quả chưa cao; Tỷ lệ có việc làm cao nhưng thu nhập và tính ổn định thấp; Khoảng cách giữa các dân tộc còn lớn. Trên cơ sở đó, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng lực lượng lao động người dân tộc thiểu số.
Nhìn lại kết quả bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc giai đoạn 2021-2025

Nhìn lại kết quả bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc giai đoạn 2021-2025

Không gian học thuật | Phương Thảo - 07:17, 03/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Văn hóa các dân tộc thiểu số là bộ phận cấu thành quan trọng, tạo nên bản sắc độc đáo và sự thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Từ sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021 đến nay, nhận thức về vai trò của văn hóa dân tộc đã có bước chuyển biến căn bản, từ chức năng giải trí, tinh thần sang trở thành nguồn lực kinh tế và biểu tượng quốc gia. Do vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc không đơn thuần chỉ còn là gìn giữ những di sản của quá khứ mà trở thành nhiệm vụ chiến lược nhằm khơi thông nguồn lực nội sinh, tạo động lực cho sự phát triển bền vững đất nước. Giai đoạn 2021-2025, Chính phủ triển khai quyết liệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có Dự án 6 tập trung chuyên sâu vào việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch. Bài viết đánh giá một số kết quả nổi bật trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số tại Việt Nam giai đoạn này. Thông qua việc phân tích các kết quả về xây dựng thiết chế văn hóa, đào tạo nhân lực và tổ chức sự kiện, bài viết làm rõ sự chuyển dịch tư duy từ bảo tồn tĩnh sang bảo tồn “động” nhằm phát huy vai trò to lớn của văn hóa dân tộc đóng góp vào sự phát triển đất nước.
Mô hình Tuệ Tĩnh đường và đóng góp của y học Phật giáo trong chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Mô hình Tuệ Tĩnh đường và đóng góp của y học Phật giáo trong chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Không gian học thuật | Trần Ngọc Tú - 05:31, 02/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu chuyên sâu về mô hình Tuệ Tĩnh đường, một thiết chế y tế đặc thù mang tính truyền thống của Phật giáo Việt Nam, kế thừa tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân” của thiền sư Tuệ Tĩnh. Dưới góc nhìn của xã hội học tôn giáo và văn hóa học, tác giả phân tích cơ sở lý luận, cơ cấu vận hành, cùng những đóng góp đa chiều của y học Phật giáo đối với hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, Tuệ Tĩnh đường không chỉ là nơi khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo bằng y học cổ truyền, mà còn là một không gian văn hóa - tâm linh đặc biệt, nơi kết hợp nhuần nhuyễn giữa y thuật (trị bệnh thân) và y đức dựa trên tinh thần từ bi, vô ngã (trị bệnh tâm). Từ thực tiễn hoạt động của các Tuệ Tĩnh đường tại các trung tâm Phật giáo lớn hiện nay, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực chuyên môn và phát huy tối đa nguồn lực xã hội hóa của mô hình này trong hệ thống y tế quốc gia đương đại.
Phân quyền, phân cấp thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia trong bối cảnh đổi mới mô hình quản trị địa phương

Phân quyền, phân cấp thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia trong bối cảnh đổi mới mô hình quản trị địa phương

Không gian học thuật | Trần Dũng - 05:20, 02/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Phân quyền, phân cấp, đảm bảo rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả là chủ trương, định hướng quan trọng của Đảng trong tiến trình đổi mới quản trị quốc gia, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương. Giai đoạn 2021-2025, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, cơ chế phân quyền, phân cấp đã góp phần nâng cao tính chủ động của chính quyền cơ sở, thúc đẩy giải ngân nguồn vốn, cải thiện hiệu quả thực hiện chính sách và tạo chuyển biến trong phát triển kinh tế - xã hội. Bài viết làm rõ những chuyển biến tích cực trong việc trao quyền cho địa phương; đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030.
Phản bác luận điệu xuyên tạc một số nội dung trong Điều 14 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026

Phản bác luận điệu xuyên tạc một số nội dung trong Điều 14 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026

Không gian học thuật | Anh Vũ - 05:19, 02/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 (Luật số 07/2026/QH16) đánh dấu bước tiến lớn trong việc hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với kỷ nguyên số. Trong đó, Điều 14 quy định về người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng đã làm sâu sắc hơn vai trò chủ thể của “cộng đồng dân cư”. Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã đưa ra nhiều luận điệu bóp méo quy định này nhằm vu cáo Nhà nước hành chính hóa hoạt động tâm linh, tước đoạt quyền tự chủ của người dân. Bài viết tập trung phân tích nội dung pháp lý của Điều 14, nhận diện thủ đoạn xuyên tạc và đề xuất giải pháp đấu tranh phản bác.
Đổi mới chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận từ góc độ quản trị phát triển

Đổi mới chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận từ góc độ quản trị phát triển

Không gian học thuật | ThS. Trần Hồng Quỳnh - 05:11, 02/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Trên cơ sở tiếp cận từ lý thuyết vốn xã hội và quản trị phát triển, bài viết phân tích kết quả và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chính sách đối với người có uy tín; đồng thời đề xuất một số hàm ý chính sách từ góc độ xem người có uy tín là đối tác đồng kiến tạo quản trị cộng đồng cùng Nhà nước, phù hợp với yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
Biểu tượng áo dài trong mỹ thuật tạo hình tượng Đức Mẹ tại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa

Biểu tượng áo dài trong mỹ thuật tạo hình tượng Đức Mẹ tại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa

Không gian học thuật | ThS. Nguyễn Lê Vân Chi* - 04:53, 02/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu sâu về sự tích hợp của áo dài - biểu tượng trang phục cốt lõi mang căn tính Việt Nam - trong mỹ thuật tạo hình tượng Đức Mẹ Maria tại Việt Nam, đặc biệt qua trường hợp tiêu biểu là thánh tượng Đức Mẹ La Vang. Đứng từ hệ hình lý thuyết Hội nhập văn hóa của thần học Ki-tô giáo hiện đại và ký hiệu học văn hóa, nghiên cứu giải mã tiến trình chuyển hóa ký hiệu thị giác từ quy thức tạo hình phương Tây sang ngôn ngữ thẩm mỹ địa phương. Bài viết làm rõ rằng việc khoác lên tượng Đức Mẹ tà áo dài (áo mệnh phụ/áo bế hài) kết hợp với khăn vành dây không đơn thuần là sự thay đổi ngoại vi mang tính minh họa trang phục, mà là một chiến lược biểu đạt thần học có chiều sâu. Qua đó, hình tượng Đức Mẹ vừa bảo toàn tính thánh thiêng vô nhiễm của giáo lý Công giáo, vừa tiệm cận một cách hài hòa với tâm thức sùng bái tính nữ địa phương của người Việt mà không rơi vào xu hướng dung hợp vô nguyên tắc. Nghiên cứu đồng thời phân tích các giá trị thẩm mỹ, đóng góp của trường phái này vào kho tàng mỹ thuật dân tộc và đề xuất các định hướng bảo tồn di sản nghệ thuật thánh giáo trong bối cảnh đương đại.
Sự hòa quyện Phật - Lão - Nho và các vĩ nhân thế giới trong triết lý đạo Cao Đài

Sự hòa quyện Phật - Lão - Nho và các vĩ nhân thế giới trong triết lý đạo Cao Đài

Không gian học thuật | ThS. Nguyễn Thị Diệu Thúy - Anh Vũ - 04:40, 02/09/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Đạo Cao Đài (Đại đạo Tam kỳ Phổ độ), ra đời tại Nam Bộ Việt Nam vào năm 1926, là một hiện tượng tôn giáo bản địa đặc sắc mang tính tổng hợp toàn diện. Bài viết tập trung phân tích sâu sắc cấu trúc triết lý cốt lõi của đạo Cao Đài thông qua hai trục quy chiếu: Sự dung hợp tư tưởng Tam giáo phương Đông (Phật - Lão - Nho) và sự tích hợp hệ thống các vĩ nhân, danh nhân văn hóa thế giới vào hệ thống thần điện và giáo lý. Bài viết cũng đánh giá giá trị nhân văn và những đóng góp của triết lý này trong bối cảnh đối thoại liên tôn giáo hiện đại.
Kinh nghiệm của một số địa phương trong giải quyết nhóm mục tiêu gặp nhiều khó khăn trong Chương trình Mục tiêu quốc gia 1719

Kinh nghiệm của một số địa phương trong giải quyết nhóm mục tiêu gặp nhiều khó khăn trong Chương trình Mục tiêu quốc gia 1719

Không gian học thuật | Hoàng Thu - 17:06, 10/08/2026
(DTTG) -Tóm tắt: Bài viết làm rõ 02 nhóm mục tiêu gặp nhiều khó khăn, gồm: Nhóm mục tiêu về cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn (khu vực III) và thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào DTTS&MN; Nhóm mục tiêu về công tác định canh, định cư, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất sau khi kết thúc giai đoạn 2021-2025 thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Từ kinh nghiệm của một số địa phương trong giải quyết những khó khăn này, bài viết khái quát các bài học kinh nghiệm có thể tham khảo vận dụng trong tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu giai đoạn 2026-2030.
Nhận diện và phân loại hoạt động của các “hiện tượng tôn giáo mới” ở Việt Nam vấn đề cấp thiết trong công tác quản lý

Nhận diện và phân loại hoạt động của các “hiện tượng tôn giáo mới” ở Việt Nam vấn đề cấp thiết trong công tác quản lý

Không gian học thuật | TS. Lê Thị Liên - 17:05, 10/08/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Hiện tượng tôn giáo mới (HTTGM) xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại, ở hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam và trở thành một tất yếu của sự phát triển xã hội. Sự hiện hữu của các tôn giáo hiện nay đều có khởi đầu từ những hiện tượng tôn giáo mới. Chúng phản ánh những vấn đề tâm lý và nhận thức của con người trước những vấn đề cuộc sống đang đặt ra. Tại Việt Nam, thời gian qua nhiều hiện tượng tôn giáo mới/hội, nhóm tôn giáo (gọi chung là HTTGM) xuất hiện (có những thời điểm lên đến hơn 100 loại và hiện nay khoảng 80 loại), với nhiều tên gọi, nguồn gốc khác nhau tồn tại bên cạnh các tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống, hoạt động đa dạng và cũng không kém phần phức tạp, đã ảnh hưởng đến đời sống người dân và an ninh xã hội ở một số địa phương. Do vậy, việc nhận diện, phân loại hoạt động của các hiện tượng này là một trong những bước đi quan trọng để đề xuất giải pháp quản lý phù hợp. Nhằm đảm bảo đúng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân vừa đảm bảo môi trường tín ngưỡng, tôn giáo ổn định.
Một số vấn đề về dân số và phát triển ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam hiện nay

Một số vấn đề về dân số và phát triển ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam hiện nay

Không gian học thuật | Phương Liên - 23:35, 07/08/2026
(DTTG)-Tóm tắt: Dựa trên kết quả Điều tra thu thập thông tin thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019 và 2024 (công bố cuối tháng 11/2025), bài viết phân tích mức sinh, xu hướng biến đổi và sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc thiểu số trong mối liên hệ với bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam. Kết quả cho thấy mức sinh của các dân tộc có xu hướng giảm nhưng phân hóa mạnh, mô hình sinh con sớm còn phổ biến, đặc biệt ở nhóm tuổi 20-24, góp phần duy trì cơ cấu dân số trẻ ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Tuy nhiên, mức sinh và quy mô dân số trẻ không đồng nghĩa với chất lượng nguồn nhân lực khi sinh con sớm vẫn gắn với hạn chế về giáo dục, việc làm và tiếp cận dịch vụ xã hội. Từ đó, bài viết khuyến nghị chính sách theo hướng phân nhóm can thiệp, điều chỉnh hành vi sinh phù hợp, nhấn mạnh vai trò của giáo dục, phát triển sinh kế và dịch vụ sức khỏe sinh sản gắn với đặc thù văn hóa tộc người, nhằm vừa thích ứng với già hóa dân số, vừa bảo đảm phát triển bền vững.
Vai trò người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận từ góc độ vốn xã hội và quản trị cộng đồng

Vai trò người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận từ góc độ vốn xã hội và quản trị cộng đồng

Không gian học thuật | Phương Thảo - 22:25, 06/08/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số là lực lượng xã hội đặc thù, có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng. Họ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm quốc phòng, an ninh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở. Trên cơ sở tiếp cận từ lý thuyết vốn xã hội và quản trị cộng đồng, bài viết phân tích vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm khẳng định trong tiến trình xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vai trò của người có uy tín trong đồng bào DTTS ngày càng quan trọng hơn.
Tác động của Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến mục tiêu giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam

Tác động của Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến mục tiêu giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam

Không gian học thuật | Hoàng Thu - 16:33, 27/07/2026
(DTTG) - Bài viết phân tích tác động của Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn I từ 2021 - 2025 đối với thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy Chương trình không chỉ góp phần cải thiện thu nhập mà còn giảm đáng kể các chiều thiếu hụt về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sinh hoạt, tiếp cận thông tin và hạ tầng thiết yếu cho đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn trong việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: 2026-2030.