Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026
Phát huy nguồn lực văn hóa di sản Phật giáo Huế trong phát triển du lịch và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc

Phát huy nguồn lực văn hóa di sản Phật giáo Huế trong phát triển du lịch và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát huy nguồn lực di sản Phật giáo Huế trong phát triển du lịch gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Trải qua hơn bốn thế kỷ, Phật giáo Huế đã kiến tạo hệ thống di sản vật thể độc đáo như: tổ đình, cổ tự, kiến trúc cảnh quan và di sản phi vật thể như: mỹ thuật, nhạc lễ, ẩm thực chay, lễ hội, ứng xử. Việc chuyển hóa các di sản này thành sản phẩm du lịch chiều sâu như: thiền trà, trải nghiệm chính niệm, chữa lành… là động lực kinh tế - văn hóa quan trọng của cố đô. Tuy nhiên, hoạt động khai thác hiện đang đối mặt với nguy cơ thương mại hóa, biến dạng không gian tâm linh và thiếu đồng bộ trong quản lý. Bài viết cũng đề xuất hệ thống giải pháp chiến lược nhằm bảo vệ tính thiêng, phát huy di sản và định vị thương hiệu du lịch Huế bền vững.
Giá trị đạo đức trong giáo lý tôn giáo Baha’i

Giá trị đạo đức trong giáo lý tôn giáo Baha’i

Không gian học thuật | ThS. Phùng Thị Thanh Loan - 12:10, 16/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết làm rõ giá trị đạo đức trong giáo lý Tôn giáo Baha’i, do The Báb khởi xướng và Baha’u’llah phát triển. Giáo lý nhấn mạnh niềm tin vào một Thượng Đế duy nhất và sự thống nhất của các tôn giáo. Tôn giáo này đề cao các giá trị như công bằng, bình đẳng, yêu thương, đoàn kết và hướng thiện, đồng thời khuyến khích con người hoàn thiện bản thân và phụng sự xã hội. Qua đó, Baha’i hướng tới xây dựng một thế giới hòa bình, thống nhất và phát triển bền vững.
Kinh sách, giáo lý Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn

Kinh sách, giáo lý Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn

Không gian học thuật | Hoàng Công Tuấn - 12:09, 16/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết làm rõ đặc điểm kinh sách và giáo lý của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn - một tôn giáo nội sinh hình thành ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ thứ XX. Hệ thống kinh sách của đạo không nhiều, chủ yếu kế thừa từ Phật giáo (như kinh Cứu Khổ, kinh Phổ Môn) và các trước tác của Nguyễn Ngọc An (Triết Thánh đạo, Luật đạo), với nội dung thiên về khuyến tu, dạy đạo làm người, đề cao hiếu nghĩa và trách nhiệm xã hội. Về giáo lý, tôn giáo này mang tính dung hợp Tam giáo (Phật - Nho - Đạo) và tín ngưỡng dân gian, lấy nguyên lý “học Phật - tu Nhân” làm cốt lõi. Giáo lý nhấn mạnh đạo hiếu, đạo nghĩa và việc thực hành Tứ ân (Ân đất nước, Tổ tiên cha mẹ, Tam bảo và đồng bào nhân loại). Con đường tu hành chủ yếu là rèn luyện đạo đức, sống tốt đời đẹp đạo, gắn bó với gia đình và xã hội, phù hợp với đời sống Nam Bộ.
Thực hành tôn giáo ở Việt Nam - Những thích ứng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

Thực hành tôn giáo ở Việt Nam - Những thích ứng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

Không gian học thuật | Minh Hồng - 23:03, 15/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hay còn được gọi là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại thay đổi đột biến trong nhiều chiều cạnh của đời sống xã hội. Tự động hóa, mạng Internet kết nối vạn vật và điện toán đám mây là những gì mà Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mang lại. Công cuộc chuyển đổi số làm cho nhiều hoạt động cơ bản của lối sống cũ trở nên không phù hợp. Tôn giáo ở Việt Nam với tư cách là một thiết chế xã hội chịu sự tác động trực tiếp của Cách mạng công nghiệp 4.0. Tại Việt Nam, thực hành tôn giáo không còn bó hẹp trong không gian truyền thống mà đang chuyển dịch mạnh mẽ sang không gian số. Bài viết phân tích sâu sắc cách thực hành tôn giáo tại Việt Nam đang tự điều chỉnh, thích ứng trong dòng chảy số hóa này.
Những chặng đường của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam

Những chặng đường của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam

Không gian học thuật | PGS.TS Nguyễn Thanh Xuân - 11:26, 15/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Ở Việt Nam, Công giáo là một tôn giáo có số lượng tín đồ, chức sắc, phạm vi hoạt động, cũng như ảnh hưởng xã hội chỉ đứng sau Phật giáo. Riêng với Công giáo ở Việt Nam bên cạnh cơ chế tổ chức giáo hội với các giáo phận, giáo xứ theo truyền thống, còn có tổ chức mang tính chất xã hội được thành lập năm 1955 tồn tại đến ngày nay là Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam. Bài viết làm rõ quá trình 70 năm hình thành và phát triển của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam từ năm 1955 đến năm 2025.
Đạo Cao Đài góp phần đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Đạo Cao Đài góp phần đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Không gian học thuật | Nguyễn Đức Dũng * - 11:25, 15/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Đoàn kết tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế. Đạo Cao Đài - Một tôn giáo nội sinh của Việt Nam, với giáo lý dung hòa, tinh thần yêu nước và phương hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, đã có những đóng góp tích cực vào việc củng cố đoàn kết tôn giáo, ổn định xã hội và phát triển đất nước.
Một số vấn đề lý luận cơ bản về hiện tượng “Tôn giáo số”

Một số vấn đề lý luận cơ bản về hiện tượng “Tôn giáo số”

Không gian học thuật | TS. Dương Văn Biên - 11:24, 15/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Vài thập niên gần đây, biểu đạt và thực hành tôn giáo trên mạng Internet trở thành điểm đáng chú ý trong đời sống tôn giáo, với sự xuất hiện một hiện tượng được gọi là “tôn giáo số”. Hiện tượng này có tác động đa chiều, không chỉ trên không gian mạng mà còn với đời sống ngoài đời, vượt xa ranh giới địa lý thông thường. Các nghiên cứu lý luận trong khoảng hai thập niên qua đã có đóng góp quan trọng trong nhận diện bản chất và đặc điểm của hiện tượng tôn giáo số.
Nhận diện hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý Nhà nước

Nhận diện hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý Nhà nước

Không gian học thuật | ThS. Lê Thị Lý - 11:33, 14/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Từ thập niên 90 thế kỉ XX trở lại đây đã xuất hiện và phát triển các “hiện tượng tôn giáo mới”, hay Đạo lạ, giáo phái ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Hoạt động của hiện tượng này ở nước ta đã tác động không nhỏ tới kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là các loại hình “hiện tượng tôn giáo mới” cực đoan. Vì vậy, trong quản lý nhà nước hiện nay nhận diện, giải quyết, ứng xử đối với hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam là vấn đề cần thiết đặt ra.
Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đảm bảo chính sách dân tộc, tôn giáo đối với đồng bào Khmer

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đảm bảo chính sách dân tộc, tôn giáo đối với đồng bào Khmer

Không gian học thuật | TS. Phạm Viết Duy* - 16:01, 13/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và phát triển đời sống kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc Khmer. Tác giả tập trung nhận diện và phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đặc biệt là tổ chức “Liên đoàn Khmer Krom” (KKF), về vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo tại vùng Tây Nam Bộ. Thông qua việc đào tạo chức sắc, trùng tu chùa chiền và tổ chức các lễ hội truyền thống như dâng y Kathina, minh chứng cho sự gắn kết chặt chẽ giữa Phật giáo Nam tông Khmer với khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới.
Vai trò của thiết chế văn hóa cơ sở trong phát triển văn hóa vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Vai trò của thiết chế văn hóa cơ sở trong phát triển văn hóa vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Không gian học thuật | Phương Thảo - 15:51, 13/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu về vai trò của thiết chế văn hóa cơ sở đương đại trong đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số; Phân tích kết quả đạt được trong giai đoạn 2021-2025, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế này trong giai đoạn tới.
Hiếu hạnh trong Nho giáo và đạo Cao Đài

Hiếu hạnh trong Nho giáo và đạo Cao Đài

Không gian học thuật | Phúc Nguyên - 15:46, 13/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích giá trị của hiếu hạnh trong sự giao thoa giữa Nho giáo truyền thống và đạo Cao Đài. Trong Nho giáo, hiếu đạo là nền tảng của mọi mối quan hệ xã hội, nhấn mạnh vào lòng thành kính, sự phụng dưỡng và giữ gìn khí tiết của cha mẹ ngay cả khi họ đã quá vãng. Đạo Cao Đài kế thừa những tinh hoa này nhưng nâng tầm hiếu hạnh thành một pháp tu cốt lõi. Theo đó, hiếu đạo không chỉ dừng lại ở bổn phận gia đình (nhân đạo) mà còn mở rộng thành tình yêu thương nhân loại (đại hiếu) và là điều kiện tiên quyết để đạt tới thiên đạo. Bài viết khẳng định hiếu chính là thước đo giá trị của người tu hành và là sợi dây kết nối tâm linh giữa các thế hệ.
Du lịch văn hóa - Nguồn lực phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong kỷ nguyên mới của đất nước

Du lịch văn hóa - Nguồn lực phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong kỷ nguyên mới của đất nước

Không gian học thuật | Nguyễn Thị Phương Thảo - 00:22, 13/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của du lịch văn hóa; Phân tích tài nguyên và thực trạng phát triển du lịch văn hóa; Đánh giá những tác động đa chiều của du lịch văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Hội nhập văn hóa Công giáo với việc giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc

Hội nhập văn hóa Công giáo với việc giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc

Không gian học thuật | ThS. Nguyễn Kim Anh* - 16:38, 12/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Hội nhập văn hóa Công giáo với việc giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Tại Việt Nam, Công giáo là một tôn giáo lớn, có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, gắn bó mật thiết với đời sống xã hội và văn hóa của dân tộc. Trong quá trình tồn tại và phát triển, Công giáo không chỉ mang theo những giá trị văn hóa tôn giáo đặc thù mà còn từng bước thích nghi, tiếp biến và hòa nhập với các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Ý nghĩa biểu tượng trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số ở miền núi thành phố Đà Nẵng

Ý nghĩa biểu tượng trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số ở miền núi thành phố Đà Nẵng

Không gian học thuật | TS. Trần Tấn Vịnh* - 16:37, 12/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài báo tiếp cận văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số miền núi thành phố Đà Nẵng từ góc nhìn nhân học biểu tượng, nhằm làm rõ vai trò và ý nghĩa của các biểu tượng ẩm thực trong đời sống xã hội và tâm linh của cộng đồng. Trên cơ sở phân tích các món ăn truyền thống, dụng cụ ẩm thực, thực hành nghi lễ và nghệ thuật trang trí liên quan đến ăn uống của các dân tộc như Cơ-tu, Tà Ôi, Bru-Vân Kiều, Pa Cô, Ca Dong, Cor…, nghiên cứu cho thấy ẩm thực không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh tồn mà còn là một hệ thống ký hiệu văn hóa đa tầng, phản ánh thế giới quan, quan niệm về con người, tự nhiên và xã hội. Trong bối cảnh đương đại, các biểu tượng ẩm thực này tiếp tục được tái hiện và sáng tạo trong hoạt động lễ hội, du lịch cộng đồng và giao lưu văn hóa, qua đó góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa, củng cố bản lĩnh văn hóa tộc người và thúc đẩy phát triển bền vững ở khu vực miền núi.
Bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số - Mô hình hiệu quả và khoảng trống trong nghiên cứu

Bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số - Mô hình hiệu quả và khoảng trống trong nghiên cứu

Không gian học thuật | TS. Phú Văn Hẳn*; ThS. Nguyễn Duy Dũng**; ThS. Võ Thị Thảo Nguyên*** - 16:35, 12/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Ngôn ngữ dân tộc thiểu số là thành tố quan trọng cấu thành bản sắc văn hóa và là kho lưu giữ tri thức địa phương của các cộng đồng. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, đô thị hóa và chuyển dịch mạnh mẽ của các không gian giao tiếp, nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ suy giảm và mai một. Bài viết tập trung phân tích các mô hình bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã và đang được triển khai, bao gồm mô hình dựa vào cộng đồng, giáo dục song ngữ, ứng dụng công nghệ số và gắn bảo tồn ngôn ngữ với phát triển kinh tế, văn hóa. Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước, bài viết chỉ ra những khoảng trống nghiên cứu, đặc biệt là vai trò chủ thể của cộng đồng trong bảo tồn ngôn ngữ. Qua đó, tác giả nhấn mạnh yêu cầu đổi mới cách tiếp cận nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của công tác bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong bối cảnh hiện nay.
An ninh văn hóa vùng dân tộc thiểu số - Những vấn đề đặt ra và giải pháp

An ninh văn hóa vùng dân tộc thiểu số - Những vấn đề đặt ra và giải pháp

Không gian học thuật | ThS. Nguyễn Duy Dũng - 16:17, 12/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: An ninh văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số là bộ phận quan trọng của an ninh phi truyền thống, gắn chặt với ổn định xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát triển bền vững đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của không gian truyền thông số, các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang chịu nhiều tác động đa chiều, làm nảy sinh những thách thức mới đối với việc bảo đảm an ninh văn hóa. Bài viết tiếp cận vấn đề trên cơ sở lý luận về an ninh văn hóa và quản trị văn hóa đa dạng, phân tích thực trạng, nhận diện các nguy cơ như mai một bản sắc, đứt gãy truyền thừa văn hóa và sự lợi dụng vấn đề văn hóa, tôn giáo để gây bất ổn xã hội. Qua đó, tác giả đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm tăng cường an ninh văn hóa, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, góp phần ổn định và phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới hiện nay.
Vai trò của văn hóa các dân tộc thiểu số trong xây dựng nền công nghiệp văn hóa ở Việt Nam

Vai trò của văn hóa các dân tộc thiểu số trong xây dựng nền công nghiệp văn hóa ở Việt Nam

Không gian học thuật | Hoàng Thị Phương Liên - 16:16, 12/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của văn hóa các dân tộc thiểu số trong quá trình xây dựng công nghiệp văn hóa ở Việt Nam, tập trung làm rõ những khía cạnh có khả năng khai thác, phát triển thành sản phẩm và dịch vụ văn hóa. Qua đó, bài viết chỉ ra các điều kiện cần thiết để khai thác văn hóa các dân tộc thiểu số theo hướng bền vững, bảo đảm vai trò chủ thể của cộng đồng, đồng thời đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực văn hóa này trong phát triển công nghiệp văn hóa quốc gia.
Xây dựng hệ sinh thái số về di sản và bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập hiện nay

Xây dựng hệ sinh thái số về di sản và bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập hiện nay

Không gian học thuật | Th.S Nguyễn Thị Diệp - 19:06, 10/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, bảo tồn và phát huy di sản, bản sắc văn hóa dân tộc đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Bài viết làm rõ cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ sinh thái số về di sản và bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, tác giả chỉ ra các cấu phần cốt lõi của hệ sinh thái số văn hóa, bao gồm dữ liệu số, nền tảng công nghệ, chủ thể tham gia và cơ chế quản trị. Qua đó, bài viết phân tích việc xây dựng hệ sinh thái số văn hóa theo cách tiếp cận lấy văn hóa làm trung tâm, quyền sở hữu tri thức và sự tham gia chủ động của cộng đồng, góp phần phát triển bền vững và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
Tri thức dân gian trong bảo vệ rừng của người Hà Nhì ở Lào Cai

Tri thức dân gian trong bảo vệ rừng của người Hà Nhì ở Lào Cai

Không gian học thuật | Hồng Thanh Tâm - 11:33, 10/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Người Hà Nhì ở tỉnh Lào Cai, chủ yếu thuộc nhóm Hà Nhì Đen, sinh sống tập trung tại khu vực vùng núi cao xã Bát Xát. Trong quá trình cư trú và canh tác lâu dài, cộng đồng này đã hình thành mối quan hệ gắn bó mật thiết với rừng, coi rừng vừa là không gian sinh tồn vừa là thực thể linh thiêng trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng. Trên nền tảng kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp và hệ thống quan niệm truyền thống, người Hà Nhì đã xây dựng một hệ thống tri thức dân gian phong phú trong ứng xử với rừng, thể hiện qua các quy ước cộng đồng, luật tục, nghi lễ tín ngưỡng và tập quán canh tác nhằm khai thác hợp lý và bảo vệ tài nguyên rừng một cách bền vững. Bài viết tập trung phân tích nội dung và vai trò của các tri thức dân gian trong bảo vệ rừng của người Hà Nhì, qua đó làm rõ những giá trị văn hóa - xã hội và ý nghĩa thực tiễn của hệ tri thức này đối với công tác quản lý tài nguyên rừng và phát triển bền vững ở địa phương hiện nay.
Bảo tồn không gian để văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên sống với thời gian

Bảo tồn không gian để văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên sống với thời gian

Không gian học thuật | TS. Lê Phú Thắng* - ThS. Nguyễn Duy Dũng** - 11:17, 10/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là nền tảng sống còn quyết định sự tồn tại và tính liên tục của di sản trong đời sống cộng đồng các dân tộc địa phương. Bài viết tiếp cận bảo tồn cồng chiêng theo hướng bảo tồn “không gian văn hóa”, coi đây là điều kiện tiên quyết để văn hóa cồng chiêng có thể sống và thích ứng cùng thời gian, thay vì chỉ tồn tại dưới dạng trình diễn hay lưu giữ tư liệu. Trong bối cảnh biến đổi xã hội, đô thị hóa và tác động của kinh tế thị trường, không gian sinh hoạt truyền thống gắn với cồng chiêng đang bị thu hẹp và biến dạng, dẫn tới nguy cơ đứt gãy thực hành văn hóa. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa cồng chiêng, không gian làng, nghi lễ và cộng đồng chủ thể, tác giả đề cập vai trò trung tâm của cộng đồng trong bảo tồn không gian sống của di sản, đồng thời đề xuất định hướng bảo tồn gắn với đời sống, phát triển bền vững và thích ứng với bối cảnh hiện nay.
Ứng dụng khoa học công nghệ góp phần nâng cao giá trị tri thức địa phương vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Ứng dụng khoa học công nghệ góp phần nâng cao giá trị tri thức địa phương vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Không gian học thuật | ThS. Nguyễn Duy Dũng - 11:15, 10/04/2026
(DTTG) - Tóm tắt: Tri thức địa phương của đồng bào dân tộc thiểu số là nguồn lực đặc thù, tích lũy qua quá trình lịch sử lâu dài, gắn liền với điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và đời sống văn hóa, xã hội của cộng đồng. Trong bối cảnh phát triển khoa học công nghệ và yêu cầu phát triển bền vững hiện nay, việc ứng dụng khoa học nhằm bảo tồn, phát huy và nâng cao giá trị tri thức địa phương trở thành vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Bài viết phân tích vai trò của khoa học và công nghệ trong việc hệ thống hóa, chuẩn hóa, số hóa và kết hợp tri thức địa phương với khoa học hiện đại, qua đó tạo ra giá trị gia tăng trong sản xuất, sinh kế và bảo tồn văn hóa. Trên cơ sở đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra, nghiên cứu đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm bảo đảm sự tham gia chủ thể của cộng đồng, hài hòa giữa bảo tồn tri thức địa phương và đổi mới sáng tạo, góp phần phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Bài đọc nhiều